Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU TẦM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU TẦM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2025

Có những lúc bạn cần phải biết thua !

 

CÓ NHỮNG LÚC BẠN CẦN PHẢI BIẾT THUA !
Fb Phuong Tran





So găng trên võ đài chưa đầy nửa hiệp một, Long nhận ra đối thủ kém hơn mình. 
Trận này, Minh là đối thủ của Long, xuất thân từ một võ phái có tiếng nhưng kinh nghiệm thượng đài chưa nhiều. Là võ sĩ chuyên nghiệp, Long thừa biết, chỉ cần ra vài đòn, võ sĩ đã có thể cảm nhận được ai mạnh hơn. 
Liên tiếp đón các đòn thế không hiểm hóc của Minh, Long biết rằng, Minh không đủ nội lực để đấu với mình. Dường như Minh cũng đã nhận ra điều đó nên đôi mắt của Minh có vẻ rất lo lắng. 
Càng lúc, đôi mắt ấy càng tuyệt vọng. 
Long ngạc nhiên. Võ sĩ thượng đài thắng thua là chuyện thường, có gì Minh phải bất thường & tuyệt vọng đến độ dại người ra thế. 
Nhiều lúc Minh nôn nóng tấn công dồn dập cầu may, nhưng chẳng làm gì được, đến nỗi không tung ra một đòn thế nào cả. 
Gần hết hiệp thứ 3, cũng là hiệp cuối cùng, Minh ra một đòn đấm trực diện, Long té ra sàn chịu thua. 
Ba tháng sau Long nhận được bức thư của Minh. 
Thư viết rằng: “Cám ơn anh đã cứu mạng con gái tôi. Cháu bị bệnh tim phải mổ gấp mà tôi không chạy đâu ra tiền nên liều đăng ký đấu đài với võ sĩ nổi tiếng như anh, hy vọng thắng để có tiền thưởng mổ tim cho cháu. Tôi chỉ thắc mắc tại sao anh biết tôi cần tiền cực độ mà nhường tôi trận thắng đó ? Anh mất danh dự và cả tiền thưởng nhưng anh đã cứu mạng con gái tôi. Sau này, tôi sẽ dẫn cháu đến lạy anh xin anh làm cha đỡ đầu cho cháu". 
Đến lúc này, Long mới hiểu nỗi tuyệt vọng trong đôi mắt của Minh lúc đó là gì ? 
Suy cho cùng, trong cuộc đời này, có những chiến thắng đầy ý nghĩa nhưng có những chiến bại lại cao đẹp hơn. 
Người có thể thắng mà chấp nhận thua là người có đủ trí tuệ và đạo đức để kiểm soát tâm hiếu thắng của mình. 
Họ bản lĩnh biết khi nào cần phải thắng và khi nào cần phải nhường nhịn để thua. Có khi thua mà lòng bình yên & thanh thản, có khi thắng, hối hận cả một đời người. 
(Nguồn Internet.TVK)

 

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2025

SUY NIỆM VỀ THÁNH NỮ CATARINA SIÊNA

 

SUY NIỆM VỀ THÁNH NỮ CATARINA SIÊNA

1.Suy niệm thứ nhất: Thánh nữ Catarina – con người yêu mến Chúa

“Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô” (Pl 3, 8)

Thánh nữ Catarina khấn giữ mình đồng trinh để chỉ thuộc trọn về Chúa mà thôi. Nhờ đời sống chiêm niệm, thánh nữ cắm rễ sâu đời mình trong lòng thương xót Chúa. Thánh nữ đã nhận ra lòng thương xót của Chúa dành cho những người tội lỗi và những người nghèo khổ thật lớn lao biết bao. Do vậy, thánh nữ đã quyết tâm hoán cải họ bằng đời sống cầu nguyện và rao giảng Tin Mừng tình thương của Chúa cho họ.

Lạy thánh Catarina, ngài đã muốn hoàn toàn tự hiến cho Thiên Chúa như khí cụ Chúa dùng để cứu vớt các linh hồn. Xin ngài cầu thay nguyện giúp cho chúng con trước tòa Chúa để chúng con cũng được lòng say mến Chúa và trung thành thi hành thánh ý Chúa mỗi ngày. Amen.

2. Suy niệm thứ hai: Thánh nữ Catarina – con người yêu mến Giáo hội

“Tôi đã trở nên người phục vụ Hội Thánh, theo kế hoạch Thiên Chúa đã ủy thác cho tôi” (Cl 1, 25).

Vào thời Giáo Hội gặp khủng hoảng, thánh nữ Catarina đã đứng lên bảo vệ đức tin tông truyền của Giáo Hội và thúc đẩy Giáo Hội canh tân đời sống. Với thánh nữ, Giáo Hội là thân mình Đức Kitô. Giáo Hội ví tựa mẹ hiền luôn lo lắng cho con cái mình là các tín hữu. Vì thế, thánh nữ ra sức kiến tạo sự hiệp nhất trong Giáo Hội.

Lạy thánh Catarina, ngài trở nên người phục vụ Chúa và Giáo Hội cách nhiệt thành qua lời nói và gương sống. Xin ngài cầu thay nguyện giúp trước tòa Chúa để chúng con hết lòng yêu mến Chúa và trung thành với giáo huấn của Giáo hội; ngõ hầu qua chúng con, mọi người nhận ra khuôn mặt nhân từ của Chúa và Giáo hội. Amen.

3. Suy niệm thứ ba: Thánh nữ Catarina – tông đồ chiêm niệm

“Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa” (1 Ga 1, 3).

Thánh nữ Catarina không chỉ là một bậc thầy chiêm niệm các mầu nhiệm của Chúa, mà ngài còn là tông đồ rao giảng lòng thương xót Chúa cho mọi người. Ánh sáng chân lý của Chúa thôi thúc thánh nữ dấn thân vào việc canh tân Giáo Hội và xã hội. Nơi thánh nhân, đời sống cầu nguyện và đời sống hoạt động tông đồ luôn đi liền mà không tách rời.

Lạy thánh Catarina, ngài là gương mẫu cho những ai muốn dâng hiến trọn đời cho Chúa. Xin ngài cầu bầu cùng Chúa cho chúng con để chúng con cũng biết hết lòng yêu mến Chúa và yêu thương anh chị em mình. Amen.

4. Suy niệm thứ tư: Thánh nữ Catarina – con người bác ái

“Trên hết mọi đức tính, anh em hãy có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3, 14).

Thánh nữ Catarina có lòng yêu thương những người tội lỗi cách đặc biệt. Thật thế, mỗi ngày thánh nhân không ngừng cầu nguyện cho họ ăn năn sám hối trở về với lòng thương xót Chúa. Chính nơi căn phòng nội tâm của mình, thánh nhân đã kêu cầu lòng thương xót Chúa và nài van Chúa đến cứu giúp tất cả những ai còn đang sống trong lầm lạc, tội lỗi. Thiên Chúa đã nhậm lời thánh nữ mà ban cho có nhiều tâm hồn ăn năn trở lại và sống thánh thiện hơn.

Lạy thánh Catarina, lòng thương yêu của ngài dành cho những tội nhân là mẫu gương cho chúng con trong việc sống đạo. Xin ngài cầu thay nguyện giúp cho chúng con trong cuộc sống này biết năng chạy đến với lòng thương xót Chúa để cầu xin ơn hoán cải và tha thứ cho chính chúng con và cho mọi người. Amen. 

5. Suy niệm thứ năm: Thánh nữ Catarina – con người phục vụ

“Hãy vui lòng phục vụ, như thể phục vụ Chúa, chứ không phải người ta” (Ep 6, 7)

Không ai có thể nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại không yêu thương anh chị em mình. Thánh nữ Catarina hiểu rằngviệc phục vụ con người là dấu chỉ chứng tỏ tình yêu dành cho Thiên Chúa. Vì thế, thánh nữ dù có bận rộn thế nào đi nữa, vẫn hằng ngày lo chiêm niệm Lời Chúa và đem Lời Chúa đến cho mọi người. Tinh thần phục vụ Tin Mừng và sẵn lòng phục vụ anh chị em là một nét nổi bật trong cuộc đời thánh nữ Catarina.

Lạy thánh Catarina, xin ngài chuyển cầu cho chúng con trước tòa Chúa uy linh cao cả để chúng con mỗi ngày biết trở nên người phục vụ Chúa và Giáo Hội cách nhiệt thành qua lời nói và gương sống. Ước chi tình yêu Đức Kitô đã thiêu đốt ngài cũng thiêu đốt tâm hồn chúng con để chúng con biết mạnh mẽ rao giảng lòng thương xót Chúa cho mọi người. Amen.

 

(Trích từ sách “LẠY CHÚA GIÊSU CON TÍN THÁC VÀO CHÚA” của Giáo xứ Mân Côi, từ trang 131 - 134 – Cha Giacôbê Phạm Văn Phượng O.P biên soạn)

 

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2024

NIỀM VUI TIẾN BƯỚC - ĐÓN TÂN TVT 2024

 NIỀM VUI TIẾN BƯỚC - ĐÓN TÂN TVT 2024



https://www.daminhgovap.org/2024/07/niem-vui-tien-buoc-gia-inh-tien-vinh-the.html

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2024

"ĐỂU CÁNG" CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

"ĐỂU CÁNG" CÓ NGHĨA LÀ GÌ?



Ngày xưa mỗi khi đi đâu, chưa có xe cộ sẵn như bây giờ, là người ta phải thuê người cáng đi – nhất là người có tuổi, người ốm. Còn đồ đạc mang theo lại phải thuê người gánh. Người cáng thuê, người ta gọi là CÁNG, còn người gánh thuê, người ta gọi là ĐỂU.

Mỗi lần gọi người đưa đi như thế, thường người ta ra đầu đường – nơi tập trung những người làm nghề đó, gọi “Cho một ĐỂU, hai CÁNG nhé!” và thế là sẽ có ba người te tái chạy vào, hai người vác theo một cái cáng, còn một người mang theo đòn gánh quang gánh.

Hầu hết Đểu và Cáng là những người lao động chân tay, ít được học hành, nên cái sự ăn chia nó thường không đều, hoặc không vừa ý với nhau, dẫn đến cãi nhau, đánh nhau, chửi nhau khi chia tiền là việc xảy ra như cơm bữa. Cứ như thế mà dân gian mới có câu “Đối xử với nhau như cái bọn ĐỂU CÁNG!”.

Do từ “đểu” theo nghĩa là người gánh thuê hoặc nghề gánh thuê là từ cổ, người ta không còn biết được cái nghĩa cổ xưa của nó nên đưa từ Đểu nghĩa là gian manh vào luôn từ ghép đểu cáng, biến ý nghĩa của hai từ này thay đổi theo như cách hiểu hiện nay.

Chú thích

(1) Ngoài đểu cáng, ta còn có thể sử dụng đểu giả hoặc chỉ dùng mỗi từ đểu cũng đã thể hiện được nghĩa gian manh, lừa lọc. Điều đó cho thấy cáng thực chất chỉ là từ ký sinh.

ẢNH KIỆU VÕNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM NĂM 1898 CỦA NHÀ NHIẾP ẢNH ANDRÉ SALLES, ẢNH ĐƯỢC XỬ LÝ MÀU.

Nguồn: Quảng Long

 

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2024

LƯU BÌNH VÀ DƯƠNG LỄ

 

CÂU CHUYỆN TÌNH BẠN CỦA LƯU BÌNH VÀ DƯƠNG LỄ

Lưu Bình và Dương Lễ là hai người bạn tâm giao từ thuở thiếu thời. Dương Lễ nhà nghèo, còn Lưu Bình giàu có nên đã đưa bạn về nhà ở, ăn cùng mâm, học cùng đèn, tình bạn hữu rất là tương đắc. Dương Lễ biết phận mình là con nhà nghèo nên ra sức học, còn Lưu Bình cậy mình có của nên lười biếng, ham chơi. Ðến khoa thi, Dương Lễ thi đậu được bổ ra làm quan. Còn Lưu Bình thì thi rớt nên sinh ra chán nản, ăn chơi hơn trước, thi mãi không đậu, tiền của tiêu mãi rồi cũng hết. Trong lúc đó, Lưu Bình nhớ đến người bạn thuở thiếu thời là Dương Lễ, hiện đang làm quan lớn nên tìm đến mong nhận được sự trợ giúp của bạn. Cay đắng thay, Dương Lễ lánh mặt không tiếp, chỉ dọn mâm cơm hẩm với đĩa cà thâm để đãi. Lưu Bình tức giận tủi nhục ra về, dọc đường ghé lại quán trọ, làm quen với một cô gái xinh đẹp, đằm thắm tên là Châu Long đang kén chồng. Nghe Lưu Bình bị trượt hai kỳ thi, Châu Long kiếm lời an ủi, khuyên Lưu Bình nên bền chí. Nàng sẽ lo liệu mọi việc để cho Lưu Bình yên lòng ăn học, giao hẹn khi nào thi đỗ mới tính việc nên duyên vợ chồng. Trai tài gái sắc cùng sống chung một nhà, có khi Lưu Bình không nén được lòng, muốn thể hiện tình cảm nhưng Châu Long cương quyết từ chối, nàng nhắc lại lời giao hẹn lúc mới gặp nhau.

Nhờ sự động viên, giúp đỡ của Châu Long nên Lưu Bình ráng sức học hành tiến bộ, đến khoa thi năm đó thì đỗ Trạng nguyên. Nhưng khi trở về nhà, Lưu Bình không thấy Châu Long đâu nữa. Hỏi thăm khắp nơi, không ai biết nàng ở đâu. Lưu Bình cũng không hiểu vì sao Châu Long lại biến mất vào lúc mình đã hiển đạt, nên đâm ra lo lắng, đau khổ, nhớ thương. Lưu Bình tìm đến thăm Dương Lễ hằng mong rửa nỗi nhục mà Dương Lễ đã gây ra cho mình trước kia. Dương Lễ vui vẻ đón tiếp và bất ngờ giới thiệu nàng Châu Long chính là thiếp thứ ba của mình. Lưu Bình hiểu ngay rằng trước đây Dương Lễ sở dĩ bạc đãi là để khích khí mình, sợ mình không có nơi nương tựa mà bê trễ việc học hành, rồi sai vợ lẽ là Châu Long thay mặt đi giúp đỡ mình ăn học cho thành tài. Từ đó Lưu Bình và Dương Lễ sống với nhau thân tình, khắng khít hơn xưa.

Bài học giá trị từ đôi bạn Lưu Bình và Dương Lễ

Thông qua qua câu chuyện của Lưu Bình và Dương Lễ, Sư Phụ đã lồng ghép trong đó những bài học rất ý nghĩa về tình bạn, giúp cho các bạn khóa sinh nhận thức thế nào là tình bạn đẹp. Sư Phụ cũng mong rằng, qua câu chuyện này các bạn khóa sinh sẽ học tập theo tình bạn của Lưu Bình và Dương Lễ để các bạn sẽ có những tình bạn đẹp như vậy - một tình bạn không vụ lợi, không ác hại nhau, chỉ có những sự yêu thương, sẻ chia và đồng hành cùng nhau. Sư Phụ nhấn mạnh rằng, tình bạn là một món quà thiêng liêng và cao quý mà ai cũng cần trân trọng, phải có tình bạn thì cuộc sống mới thật sự có ý nghĩa. Coi trọng tình bạn thì tình bạn sẽ đơm hoa kết trái và nảy nở mãi mãi không tàn lụi. Hơn thế nữa, tình bạn còn là một vị thuốc tinh thần giúp bản thân luôn vững vàng trong cuộc sống hay khi đối mặt với khó khăn thử thách. Qua câu chuyện, Sư Phụ rất đề cao những phẩm chất tốt của Dương Lễ và nhắc nhở các bạn khóa sinh phải lấy đó làm tấm gương, học tập theo để trở thành một người bạn tốt và vun đắp cho những tình bạn của chính bản thân mình.


Mong rằng, qua câu chuyện tình bạn của Lưu Bình - Dương Lễ và những lời dạy quý báu của Sư Phụ, các bạn khóa sinh sẽ vững vàng hơn trong bước đường tìm người bạn tốt cho chính bản thân mình và luôn lấy câu chuyện đó làm kim chỉ Nam để không bao giờ lạc hướng trong việc tìm và nuôi dưỡng tình bạn.

  (st)

PHẠM CÔNG CÚC HOA

 

PHẠM CÔNG CÚC HOA

Phạm Công – Cúc Hoa là một truyện thơ chữ Nôm trong văn học Việt Nam. Truyện thơ này gồm 4.610 câu thơ lục bát, xuất hiện khoảng từ giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Đây là một trong những truyện thơ Nôm có số lượng câu nhiều nhất. Từ trước đến nay, tác giả của Phạm Công-Cúc Hoa vẫn bị coi là khuyết danh. Đến tận cuối năm 2009, qua một bản in khắc gỗ, người ta mới có cơ sở để xác định tác giả truyện thơ này là Dương Minh Đức Thị[1].

Nội dung

Phạm Công là chàng trai con nhà nghèo, phải đi làm công để nuôi cha mẹ. Cha chết, Phạm Công phải đi ăn mày để tiếp tục phụng dưỡng mẹ đến khi mẹ chết. Là người hiếu học, Phạm Công xin thụ giáo Quỷ cốc tiên sinh. Ở đây, Phạm Công được Cúc Hoa là bạn đồng môn, cũng là con gái của tri phủ, yêu thương.

Hai người cưới nhau, khi Cúc Hoa có thai thì Phạm Công lên kinh thành ứng thí. Phạm Công đã gặp nhiều gian truân khổ ải, bị quốc vương các nước khác ép lấy công chúa nhưng Phạm Công đều từ chối. Nhưng nhờ công chúa nước Triệu nhân hậu, Phạm Công được trở về quê hương làm nguyên soái, đoàn tụ cùng Cúc Hoa, họ có hai con là Nghi Xuân (con gái) và Tấn Lực (con trai).

Cúc Hoa lại không may qua đời ở tuổi 30. Phạm Công tái giá với Tào Thị và phải lên Cao Bằng làm trấn thủ. Tào Thị ở nhà ngoại tình, hành hạ, ngược đãi Nghi Xuân và Tấn Lực. Cao điểm, Thị cùng người tình bàn mưu giết hại hai con chồng, khiến hai đứa phải trốn khỏi nhà.

Trong một đêm, Cúc Hoa từ cõi âm ti hiện về gặp hai con và gửi tin cho Phạm Công biết. Sau ba năm trấn thủ, Phạm Công trở về đuổi Tào Thị đi. Tào Thị sau đó bị sét đánh chết.Về sau Phạm Công được công chúa Xuân Dung nước Trịnh , Tề Thiên Đại Thánh và Diêm Vương giúp đỡ, Phạm Công xuống được âm ti và tìm được vợ. Cúc Hoa được tái sinh, trở lại dương thế, cưới lại với Phạm Công. Phạm Công cũng được vua Trịnh gả công chúa Xuân Dung và nhường ngôi vua cho.

 

Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2024

THANH LA PHÈNG PHÈNG, CHŨM CHỌE XOANG XOẢNG

 TỰ HIẾN CHO TÌNH YÊU

 

Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.

Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được.

Ơn nói tiên tri ư ? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng ? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư ? Rồi cũng chẳng còn. Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi.

Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con ; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con. Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.

(1Cr 13,1-13)

Giúp hiểu bản văn

Có nhiều đặc sủng – hay những ơn huệ thiêng liêng – trong Giáo Hội Côrintô non trẻ. Chúa Thánh Thần ban cho một số người ơn ngôn ngữ, một ơn cho phép lên tiếng ca tụng Thiên Chúa mà không dùng một ngôn ngữ thông thường nào. Bản thân thánh Phaolô cũng được ơn này.

Tuy nhiên, thánh Tông Đồ đã phản ứng trước sự đề cao thái quá ơn huệ đầy ấn tượng đó, vì nó không nhất thiết góp phần vào việc xây dựng cộng đoàn. Có những ơn huệ khác ích lợi hơn. Để đặt mọi sự vào đúng chỗ, ngài cung cấp một bản danh sách các đặc sủng được xếp theo thứ tự quan trọng, trong đó ơn ngôn ngữ nằm ở cuối : ơn tông đồ, ơn tiên tri, giảng dạy, làm phép lạ, chữa bệnh, trợ giúp, tư vấn, ngôn ngữ (1Cr 12,28). Và rồi sẵn đà, ngài nói đến một đặc sủng vượt trên mọi đặc sủng khác : lòng mến. Đoạn văn trong đó lòng mến được đặt lên hàng đầu, với giọng có phần cường điệu, có lẽ đã có trước đó rồi sau này mới được đưa vào trong thư thứ nhất Côrintô.

Suy niệm

Đây là một trong những trang được biết đến nhiều nhất trong các thư Phaolô, thường được chọn đọc trong lễ cưới. Quả thật đây là một chương trình sống thật đẹp đối với một cặp vợ chồng trẻ. Tuy nhiên, ta không nên giới hạn nó vào trong lãnh vực tình yêu vợ chồng.

Ta có thể ngạc nhiên khi thấy thánh Phaolô nói đến lòng mến – agapè tiếng Hy Lạp – trong khuôn khổ của suy tư về tầm quan trọng tương đối của các đặc sủng : ơn tông đồ, ơn tiên tri, ơn giảng dạy, tất cả vừa là ơn sủng vừa là các chức năng trong Hội Thánh. Thế nhưng với lòng mến chúng ta chuyển sang một bình diện khác. Bởi lẽ ơn này không tương ứng với bất cứ chức năng nhất định nào nhưng lại là hồn sống của tất cả. Nó siêu vượt tất cả. Có làm tông đồ, tiên tri hoặc giảng dạy mà không yêu thương thì một cách nào đó chỉ làm cho mình ra cằn khô và Hội Thánh cũng chẳng cần gì đến những viên chức phụng tự như thế. Lòng mến vươn đến tất cả và cần cho tất cả. Không gì được miễn chuẩn lòng mến, dù là tri thức, dù là lòng quảng đại, dù là bậc sống hay bất cứ thừa tác vụ nào trong Hội Thánh.

Thánh Phaolô làm nổi bật mối tương phản giữa tình cảnh hiện tại và điều sẽ xảy đến lúc cùng tận. Hiện thời chúng ta đang trên đường lữ hành. Chúng ta mò mẫm bước đi, chúng ta tin và hy vọng vào điều chúng ta không thể thấy. Chúng ta ngụp lặn trong cái chưa hoàn chỉnh, chưa hoàn tất, còn mờ ảo. Chúng ta biết về thế giới xét là thực tại hữu hình – về thời gian và không gian trong toàn thể của nó – một cách hết sức khiếm khuyết. Còn về những thực tại cốt yếu – Thiên Chúa và chương trình sáng tạo của Ngài – thì chúng ta lại càng mù mờ hơn nữa.

Chúng ta chỉ tiếp cận Chân lý với chữ C hoa, bởi đức tin và đức cậy. Cả hai dành cho giai đoạn cuộc sống tại thế, trong niềm mong đợi một hiểu biết trọn vẹn hơn. Trong cuộc sống bên kia, chúng ta sẽ không còn phải tin hoặc hy vọng điều gì nữa. Christian de Chergé, tu viện trưởng tu viện Atlas, đã viết về những kẻ nào đó rắp tâm hãm hại ngài : “Họ cần phải biết rằng như thế sự hiếu kỳ ám ảnh nhất của tôi cuối cùng sẽ được giải phóng”.

Tình yêu có giá trị lúc này và mãi mãi. Tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta sẽ không tàn lụi. Tình yêu mà chúng ta dành cho Ngài trong chính hành động yêu thương anh em mình sẽ tạo nên khúc dạo đầu cho cuộc hưởng kiến, qua đó công trình sáng tạo sẽ mang lấy chiều kích vĩnh cửu nơi Thiên Chúa.

Nếu tôi có thể yêu mến thì đó là bởi Thiên Chúa yêu tôi và bởi tình yêu của Ngài xuyên thấu con người tôi. Mà điều đó sẽ không hề ngưng nghỉ. “Tình yêu” là “mãi mãi”, như người ta vẫn nói. Đó cũng chính là điều thánh Phaolô diễn tả bằng cách nói tương tự : “Lòng mến không hề tàn tạ”.

Một thực tại cao vời như thế hẳn nhiên vượt trên các kiểu nói của thánh Phaolô. Mỗi tác giả Tân Ước nói về lòng mến theo cách của mình. Thánh Mátthêu, trong bức bích họa vĩ đại về cuộc Phán Xét Chung, đã trình bày cảnh Con Người nói với những kẻ yêu thương anh em mình xuyên qua những hành động mà hẳn họ không hiểu hết tầm mức của chúng : “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Lòng mến mà ngài nhấn mạnh ở đây là hành động yêu mến chứ không chỉ là một tình cảm đơn thuần.

Thánh Gioan, trong thư thứ nhất, có cách nói hết sức tổng hợp : “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16). Đây không phải là một định nghĩa về Thiên Chúa – vì Thiên Chúa siêu vượt mọi định nghĩa – nhưng nó giúp chúng ta hiểu rằng, khi yêu mến chúng ta có thể đi vào trong chính trái tim của Thiên Chúa, và ở đó có cả kho tàng mà không ai có thể tước mất của chúng ta được. Hiếm khi sự liên tục giữa thế giới trần gian và thế giới thần linh được diễn tả cách thuyết phục đến thế.

Những xác quyết của thánh Phaolô về lòng mến bổ túc cho một trong những khẳng định nền tảng của ngài, đó là người ta được cứu rỗi nhờ đức tin. Đức tin không hành động bởi lòng mến là một đức tin chết. Và lòng mến mà chỉ thu hẹp vào một tình cảm mà thôi thì chỉ là một ảo tưởng. Thiên Chúa mời gọi một sự dấn thân trọn vẹn, thể hiện qua các hành vi cụ thể.

Cầu nguyện

Lạy Chúa, chúng con biết rằng chúng con sẽ không thể nào yêu thương nếu tình yêu không bắt nguồn nơi Chúa. Xin cho chúng con biết nuôi dưỡng tình yêu này và để cho tình yêu đó thấm nhuần chúng con. Nhờ đó, chúng con có thể yêu thương anh em mình như chính Chúa yêu thương họ, một cách trọn vẹn và vô điều điều kiện.

Xin cho chúng con coi lòng mến như đặc sủng cao quý hơn cả và như chức năng cao trọng nhất. Không có lòng mến, mọi thừa tác vụ, mọi trách nhiệm, mọi hoạt động chỉ là hư không và chẳng đem lại hoa trái nào.

Lạy Chúa, chúng con xin trao phó cho Chúa tất cả những ai vì tình yêu, đang dấn thân trong đời sống hôn nhân hay bậc độc thân.



Website: https://www.simonhoadalat.com/Suyniem/NamThanhPhaoLo/KinhNguyen/Ngay06.htm

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2024

GIEO GÌ HÔM NAY ?

GIEO GÌ HÔM NAY ?

1. Nếu bạn gieo thành thật, bạn sẽ gặt lòng tin

2. Nếu bạn gieo lòng tốt, bạn sẽ gặt thân thiện

3. Nếu bạn gieo khiêm tốn, bạn sẽ gặt cao thượng

4. Nếu bạn gieo kiên nhẫn, bạn sẽ gặt chiến thắng

5. Nếu bạn gieo cân nhắc, bạn sẽ gặt hòa thuận

6. Nếu bạn gieo chăm chỉ, bạn sẽ gặt thành công

7. Nếu bạn gieo tha thứ, bạn sẽ gặt hòa giải.

8. Nếu bạn gieo cởi mở, bạn sẽ gặt thân mật

9. Nếu bạn gieo chịu đựng, bạn sẽ gặt cộng tác

10. Nếu bạn gieo niềm tin, bạn sẽ gặt phép màu

Nhưng:

1. Nếu bạn gieo dối trá, bạn sẽ gặt ngờ vực

2. Nếu bạn gieo ích kỷ, bạn sẽ gặt cô đơn

3. Nếu bạn gieo kiêu hãnh, bạn sẽ gặt hủy diệt

4. Nếu bạn gieo đố kỵ, bạn sẽ gặt phiền muộn

5. Nếu bạn gieo lười biếng, bạn sẽ gặt mụ mẫn

6. Nếu bạn gieo đắng cay, bạn sẽ gặt cô lập

7. Nếu bạn gieo tham lam, bạn sẽ gặt tồn hại

8. Nếu bạn gieo tầm phào, bạn sẽ gặt kẻ thù

9. Nếu bạn gieo lo lắng, bạn sẽ gặt âu lo .

10. Nếu bạn gieo tội lỗi, bạn sẽ gặt tội lỗi.

  (st)

Lời Thầm [Lm Giuse Vũ Xuân Huyên]

 

Lời Thầm 

Lời Thầm: Cái Chết


1- Cái chết là một thất bại đối với những người đã chọn trần thế làm quê hương, nhưng là một chiến thắng đối với những người đã chọn quê trời làm quê hương.

2- Người ta sinh ra để chết ở đời này. Và chết ở đời này để sinh vào đời sau.

3- Ta thường nhìn cái chết như là tận cùng của cuộc đời này mà quên rằng sự chết cũng là khởi điểm của cuộc đời sau, nên sinh ra buồn rầu chán nản.

4- Sự sống vĩ đại, nhưng sự chết còn vĩ đại hơn, vì nó đưa ta đến sự sống.

5- Chết là đi vào "mùa Đông hy vọng" để đón chờ một "mùa Xuân phục sinh".

6- Nhiều người tin rằng: Chết là hết. Tin Mừng Phục sinh là câu trả lời của Chúa cho riêng họ: Không, chết chưa phải là hết, đúng hơn mới thực sự bắt đầu. Chúa Kitô sống lại trước, ta sẽ sống lại sau.

7- Người Kitô hữu có hai quê hương: quê hương đời này và quê hương đời sau. Họ có thể tạm chấp nhận sống vô quê hương đời này, nhưng không thể chết vô quê hương đời sau.

8- Chết không phải là kết thúc đời này, nhưng là hoàn tất đời này.

9-Ai không chuẩn bị chết, thì cái chết của họ, dù lúc nào đi nữa, cũng vẫn là cái chết "bất đắc kỳ tử".

10- Tập chết mỗi ngày cũng là một cách sống tốt.


LM. Vũ Xuân Huyên

 

140. Trọn cuộc sống trăm năm chỉ là những cố gắng lột xác liên tục để tiến từ tình trạng con sâu thành hình hài con bướm mà thôi.

139. Tuổi thơ bị ức hiếp, khi sáng kiến và mơ mộng bị thế giới của người lớn bóp chệt bằng cách mớm sẵn hết cho ăn. Lúc còn thơ, các khả năng đó èo uột thì khi lớn sẽ ốm o.

138. Sự khác biệt căn bản giữa thành niên và vị thành niên không ở chỗ tuổi tác nhưng ở chỗ: khi còn là vị thành niên người ta chỉ biết nghĩ đi, nhưng khi đã thành niên rồi người ta còn biết nghĩ lại nữa.

137. Người trưởng thành là người có khả năng làm thầy cho chính mình. Bao lâu họ chưa đủ tài đức để làm thầy cho chính mình thì bấy lâu họ vẫn còn là vị thành niên.

136. Ðau khổ lớn lao nhất của một đời làm cha mẹ là thấy con cái không nên người như mẫu ngưòi mình mong ước.

135. Tự do có hai khía cạnh: tích cực và tiêu cực. Tích cực là làm theo điều mình muốn làm. Tiêu cực là biết từ chối điều mình thích làm. Tự do tích cực là khía cạnh tự nhiên của mọi loài cùng có bản năng. Tự do tiêu cực là khía cạnh ngoại nhiên của riêng loài người có lý trí. Vì tự nhiên nên không cần rèn luyện cũng có. Vì ngoại nhiên, nên phải rèn luyện mới có. Tự do của loài người hơn hẳn tự do của loài vật vì thêm khía cạnh tiêu cực này.

134. Loài người ai cũng muốn đưọoc yêu. Xin loan báo tin vui: “ Thiên Chúa yêu thương họ”. Loài người ai cũng tất mau quên. Xin nhắc lại từng phút: “Thiên Chúa yêu thương họ.”. Loài người ai cũng muốn có người yêu. Xin giới thiệu người yêu: “ Thiên Chúa. Ngài không thích yêu một chiều". Loài người ai cũng dễ mau chán. Xin chào mời thêm của lạ: Thiên Chúa trong mọi người.

133. Bác ái nghĩa là: phải yêu tha nhân như Chúa yêu ta. Chúa tác sinh ta. Chúa cứu chuộc ta. Chúa chết vì ta. Chúa dưỡng ta phần xác, nuôi ta phần hồn. Chúa quan phòng đời sống ta. Ta lệ thuộc hoàn toàn vào Chúa. Còn ta, ta đã làm được gì cho tha nhân? Tình bác ái cao cả và vĩ đại hơn cả khả năng yêu thương của con tim ta, nên suốt đời ta chĩ tập yêu mà chẳng bao giờ đạt tới đỉnh của thứ tình yêu này.

132. Bác ái Kitô giáo truyền dạy khi phục vụ người khác là phục vụ Thiên Chúa: một bổn phận tuyệt đối nặng nề đối vói con ngưòi, và khi yêu người khác là yêu chính Thiên Chúa: một quyền lợi tuyệt đối cao cả dành cho con người. Cả hai vừa hạ thấp nhân vị một cách tuyệt đối: con người là tôi tớ của nhau, vừa nâng cao nhân vị một cách tuyệt đối: con người như Thiên Chúa của nhau! Làm tròn bổn phận nặng nề và hưởng hết quyền lợi cao cả tuyệt đối ấy là con người đang biến đổi thế giới lang sói thành thế giới chiên hiền, là biến đổi mặt đất thành thiên giới, là biến đổi hỏa ngục thành thiên đường.

131. Muốn thiết lập một thiên đường nơi trần gian, rất dễ! Loài người chẳng cần phải làm cách mạng, chỉ cần cùng nhau thực hiện một điều ước duy nhất của Thượng Ðế: “ Hãy yêu thương nhau như chính Ngài đã yêu thương họ.”

130. Giới luật song hành: yêu Chúa và yêu người không thể tách rời, trái lại chúng phát triển theo tỷ lệ thuận. Càng yêu Chúa thì càng yêu tha nhân, vì Chúa đã tự đồng hóa với tha nhân.

129. Tình yêu của người mẹ như mạch suối từ trong lòng đất chảy ra, nên muôn đời sẽ không cạn.

128. Người mẹ là món qùa cao qúy nhất và cũng công bằng nhất mà Thượng Ðế ban cho mỗi người không trừ ai.

127. Nhân loại trở thành bất hạnh từ khi và ở những nơi mà người mẹ bắt đầu bất mãn rồi từ khước thiên chức của mình.

126. Lời thưa “ fiat” là chìa khóa để hát kinh “ Magnificat”. Vì sẵn sàng “xin vâng” nên suốt đời Mẹ Maria, mỗi ngày đều là một kinh “ca ngợi”. “Fiat” với đau khổ, thì đau khổ sẽ vang lên muôn cung diệu huyền của một bài “mangificat”. Mỗi lần thưa” fiat” là mỗi lần bài ca “ magnificat” lại được xướng lên cách trang trọng cho riêng mình, nhưng chắc chắn nhiều người cũng sẽ nghe “lỏm” được.

125. Nhờ Mẹ Maria mà Thiên Chúa gần gũi với loài người, nên cũng nhờ Mẹ mà loài người gần gũi được với Thiên Chúa.

124. Mẹ Maria chỉ là vị dẫn đường. Mẹ dẫn tới cùng đích mà Mẹ không phải là cùng đích. Một thụ tạo không thể là cùng đích của một thụ tạo khác. Chúa mới là cùng đích. Ai tới Mẹ thì Mẹ dẫn tới Chúa. Sợ tôn kính Mẹ nhiều lãng quên Chúa là “ lo bò trắng răng”, vì ai yêu kẻ dẫn đường thì đã yêu cùng đích trước. Rất vắn tắt và giản dị.

123. Kinh Môi khôi là tiếng “Mẹ! Mẹ ơi!” liên hồi của một đứa con thơ, khi muốn tìm Mẹ. Có người Mẹ nào nghe con mình gọi dồn dập như thế mà lại không muốn đáp lời?

122. Thiên Chúa tự mạc khải như một người Cha. Ngài chọn Mẹ Maria như hình ảnh của một người Mẹ hiền, để tình cảm của con người đối với Thượng Ðế được hài hòa hơn.

121. Nếu kính mến Ðức Mẹ thì không thể sống lo âu, phiền muộn như một đứa con mồ côi

 

Lm. Giuse Vũ Xuân Huyên 

 


Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2024

BÀI HÁT SINH HOẠT

CÁC BÀI HÁT SINH HOẠT

JESUS LOVE ME

1. Jesus loves me, this I know.

For the Bible tells me so.

Little ones to Him belong.

They are weak, but He is strong.

ĐK: Yes, Jesus loves me

Yes, Jesus loves me

Yes, Jesus loves me

The Bible tells me so

2. Jesus loves me, He who died.

Heaven's gate to open wide.

He will wash away my sin.

Let His little child come in.

NGƯỜI TÔI YÊU TÔI THƯƠNG

1. Bên trái tôi là người tôi yêu, tôi thương.

Bên phải tôi là người tôi yêu, tôi thương.

Trước mặt tôi là người tôi yêu, tôi thương.

Chung quanh tôi là người tôi yêu tôi thương.

ĐK: Người tôi yêu tôi thương đang ngồi bên trái của tôi.

Người tôi yêu tôi thương, đang ngồi bên phải của tôi.

Người tôi yêu tôi thương đang ngồi trước mặt tôi đó.

Người tôi yêu tôi thương đang ngồi chung quanh tôi đây.

THƯA CHÚA, CON YÊU NGÀI

Thưa Chúa, con yêu Ngài thật đậm sâu trong tâm trí.

Thưa Chúa, con yêu Ngài, thật đậm sâu trong trái tim.

Rất thâm sâu, sâu, sâu thật đậm sâu trong tâm trí.

Rất thâm sâu, sâu, sâu thật đậm sâu trong trái tim.

MỘT SĨ QUAN

Một sĩ quan, đến xin Chúa chữa con mình.

Chúa bảo ông: Hãy về, con ông sống đấy

Vâng lời ngày, ông về không chút do dự.

Con ông sống, niềm tin đã chữa con ông. 

CẢM ƠN NGƯỜI

1. Cảm ơn Người vì ngày hôm nay đây chúng con quây quần đang có nhau. Biết bao hạnh phúc sớt chia cuộc sống, mến thương nhau đây trọn tình thân.

2. Cảm ơn từng lần ngồi cạnh nhau đây, hát cho nhau bài ca dễ thương. Cám ơn mọi lúc sướng vui và lúc đã cho nhau kỷ niệm sầu đau.
3. Cảm ơn Người vì một tình thân thương, biết hăng say đẹp lợi ích chung. Cảm ơn được đến với nhau cùng hát, chúc khen Người muôn vạn lời ca.

4. Cảm ơn Người vì được gần nhau đây, thấy nhau xinh đẹp như ước mơ. Cảm ơn được khóc với nhau từng lúc, ngóng trông nhiều, mong gặp lại nhau.

5. Hãy yêu nhiều vì ngày hôm nay đây chúng ta đang còn trông thấy nhau. Hãy yêu nhiều nữa, cách xa còn nhớ chúc nhau trọn nguyện ước an lành.

THANK YOU, LORD

1. Thank you, Lord for friends to cherish, for each person gathered here. With delight we 've known each other as your spirit draws us near ...Member, God will bless our dreams and hopes

2. Thank you, Lord for all the singing, for the joy your love has made, wondrous moments with each other etching memries that wont fade

3. Thank you, Lord for your commission to proclaim the word that saves. Bless the closeness that unites us bidding us to sing your praise.

4. Thank you, Lord, for this communion and the beauty of such friend. Through we sorrow at this parting, still we hope to meet again

5. Step with courage, walk with bold ness, go embrace this world in need. As we part we will remember, God will bless our dreams and hopes.

CHIM ORA

Trong khung trời bao la,

Ta giang cánh bay hiền hòa.

Không sống trong tháp ngà,

Và không giận hơn kêu ca.

Dù mây mù giăng lối.

Vẫn mãi chắp cánh bay.

Cất tiếng hót thánh thót,

Vì ta là chim Ora. La la la.

KHẨU HIỆU THIẾU NHI

Cầu nguyện, rước lễ, hy sinh, làm Tông đồ.

Khẩu hiệu Thiếu nhi, em bền tâm quyết giữ.

Cầu nguyện, rước lễ, hy sinh, làm Tông đồ.

Khẩu hiệu Thiếu nhi, em chẳng quên bao giờ.

TA CA HÁT

Tang tang, tang tình, tang tính.

Ta ca, ta hát vang lên.

Hát lên cho đời tươi thắm,

Ta hát lên cho quên nhọc nhằn.

Cùng nhau ta ca hát lên.

Cho át tiếng chim trong rừng.

Cho tiếng suối reo phải ngừng.

Cho rừng xanh đón chờ ta – la la la.


Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2024

NGỤY BIỆN

 

NGỤY BIỆN

Socrates, một triết gia người Hy Lạp, được mệnh danh là bậc thầy về lý luận, truy vấn. Một hôm, ông được các đệ tử đặt câu hỏi:

- Thưa thầy, thầy có thể lấy ví dụ để nói rõ ngụy biện là gì?

Socrates suy nghĩ một lúc rồi hỏi lại:

- Giả sử có hai người, một người sạch sẽ tươm tất, còn người kia bẩn thỉu xuề xòa. Nếu mời hai người này đi tắm, các em thử nghĩ xem, hai người họ ai sẽ đi tắm trước?

Một đệ tử lớn tiếng nói:

- Tất nhiên là người bẩn thỉu rồi.

Socrates phản bác nói:

- Sai rồi, là người sạch sẽ. Bởi vì người sạch sẽ kia đã có thói quen thích tắm gội. Còn người bẩn thỉu lại cho rằng không cần phải tắm.

Nói rồi ông hỏi lại lần nữa:

- Hãy nghĩ thử đi, rốt cuộc ai sẽ di tắm trước?

Hai đệ tử đồng thanh:

- Là người sạch sẽ.

Socrates lại phản bác nói:

- Không đúng, là người bẩn thỉu . Bởi vì người bẩn thỉu càng cần phải tắm gội hơn người sạch sẽ.

Sau đó, Socrates lại hỏi thêm lần nữa:

- Vậy trong hai người rốt cuộc ai sẽ đi tắm trước?

Ba đệ tử lớn tiếng trả lời như lần thứ nhất:

- Là người bẩn thỉu.

Một lần nữa Socrates lại nói:

- Lại sai nữa rồi, dĩ nhiên là cả hai người đều sẽ đi tắm. Bởi người sạch sẽ có thói quen tắm gội, còn người bẩn thỉu cần phải đi tắm. Thế nào, rốt cuộc ai sẽ là người đi tắm trước đây?

Lần này bốn đệ tử lưỡng lự trả lời:

- Thế thì xem ra hai người đều sẽ đi tắm.

Socrates giải thích:

- Không đúng, cả hai đều sẽ không tắm. Bởi vì người bẩn thỉu không có thói quen tắm gội, còn người sạch sẽ kia thì vốn không cần phải tắm.

Lần này các đệ tử nhôn nhao nói:

- Mỗi lần thầy nói đều khác nhau, nhưng lại đều đúng, chúng tôi rốt cuộc nên hiểu thế nào đây?

Socrates nói:

- Đúng vậy, về hình thức là dùng thủ đoạn suy luận chính xác nhưng thực tế lại trái với quy luật khách quan. Đưa ra kết luận nghe thấy đúng nhưng lại là sai, đấy chính là ngụy biện!

Các đệ tử lại đặt câu hỏi:

- Thưa thầy, ngụy biện có phải là cố ý luận chứng cho lý lẽ sai nào đó và sai lầm khách quan trong đó thật không dễ phát hiện. Vậy làm sao để nhìn thấy sai lầm khách quan trong nguỵ biện đó?

Socrates suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Có hai người cùng nhau chui vào sửa ống khói. Khi họ chui từ ống khói ra, một người thì rất sạch sẽ, còn một người thì muội than nhem nhuốc khắp người. Tôi hỏi ai sẽ đi tắm trước đây?

Tất cả đệ tử ngập ngừng trả lời:

- Đương nhiên là người bị lấm bẩn khắp người sẽ đi tắm trước.

Socrates nói:

- Thật vậy ư? Các ngươi hãy chú ý, người sạch sẽ thấy người kia lấm bẩn khắp người anh ta nghĩ rằng từ ống khói chui ra sẽ rất bẩn. Còn người kia nhìn sang thấy người trước mặt rất sạch sẽ thì lại nghĩ rằng bản thân mình cũng rất sạch sẽ. Bây giờ tôi hỏi lại, ai sẽ là người đi tắm trước?

Hai đệ tử phấn khích tranh nhau:

- Ồ, tôi biết rồi ! Vậy nhất định là người sạch sẽ chạy đi tắm gội trước.

Cuối cùng Socrates chậm rãi nói:

- Những câu trả lời đó đều không đúng. Hai người đều cùng chui từ ống khói đó ra, làm sao người này thì sạch sẽ, người kia thì nhem nhuốc bẩn thỉu được. Đây gọi là trái với quy luật khách quan, dẫn tới sai lầm khách quan trong ngụy biện.

Socrates nói tiếp:

- Kẻ giỏi nói không bằng người biết phân tích lắng nghe.

- Ngụy biện nhìn ngoài thì hiệu nghiệm thật nhưng không bền vững.

- Xảo trá chi bằng hãy sống chân thành, muôn nghìn diệu kế chẳng bằng sống đúng đạo làm người.

ST.

 

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2024

Những mốc lịch sử quan trọng của GHCGVN - KỶ NIỆM 500 NĂM HẠT GIỐNG ĐƯỢC GIEO TRỒNG TRÊN MẠNH ĐẤT VIỆT NAM

 

Những mốc lịch sử quan trọng của GHCGVN

15/10/2017
  •  
  •  

 
Sức sống của Giáo hội Việt Nam hôm nay là thành quả của gần 500 năm hạt giống Tin Mừng được gieo trồng (từ năm 1533), cũng là thành quả của 400 năm cây đức tin được vun xới và đặt nền móng (năm 1615), của 360 năm Hội Thánh đi vào tổ chức với hai Giáo phận Tông Tòa đầu tiên (năm 1659) và của gần 60 năm Giáo hội độc lập và trưởng thành (năm 1960). Mỗi thời điểm đều được khắc ghi bằng những dấu ấn đặc biệt. Nhưng trong tất cả, Giáo hội Việt Nam đã chia sẻ những bước lịch sử thăng trầm của quê hương và nghiệm rõ hồng ân chan hòa từ Thiên Chúa.
 
I. Thời bảo trợ (1533 – 1659)
 
Năm 1533, theo Khâm định việt sử (33, 6b), chỉ dụ cấm đạo của vua Lê Trang Tôn đã nói đến một thừa sai Tây phương, I-Ni-Khu, lén theo đường biển vào truyền đạo tại làng Ninh Cường và làng Quần Anh, huyện Nam Chân, cùng làng Trà Lũ huyện Giao Chỉ (cả hai nay thuộc Gp. Bùi Chu).

Tiếp theo sau là dấu chân rao giảng của các linh mục dòng Đaminh: Cha Gaspar Da Santa Cruz tại Hà Tiên năm 1550, Cha Luis de Fonseca và Grégoire de la Motte tại Quảng Nam năm 1588, và Cha Bartôlômêô Ruiz dòng Phanxicô năm 1583.

Đặc biệt là việc gia nhập đạo của công chúa Mai Hoa (Maria Flora) năm 1591, tại Thanh Hóa, do linh mục Ordonez.

Dựa vào gia phả nhà họ Đỗ của thánh linh mục Đỗ Mai Năm, cụ Đỗ Hưng Viễn, người làng Bồng Trung, tỉnh Thanh Hóa, được coi là tín hữu Việt Nam đầu tiên. Cụ đi sứ và được Rửa tội tại Macao thời vua Lê Anh Tông năm 1573.

Năm 1615, tại Cửa Hàn, Quảng Nam, các linh mục dòng Tên, dưới sự điều hành của linh mục Buzomi, đã khai mở một giai đoạn mới trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam qua việc “thích nghi văn hóa”: quan tâm đến phong tục Việt Nam và giảng đạo bằng Tiếng Việt. Các vị có sáng kiến ca vãng Giáng Sinh, cổ võ ba ngày Tết kính Chúa Ba Ngôi, thay cây nêu bằng cây thánh giá, soạn sách giáo lý bằng Tiếng Việt…

Điểm nổi bật của giai đoạn này là việc Cha Đắc Lộ cho xuất bản tại Rôma năm 1651 quyển từ điển Việt - Bồ - La, sách Văn Phạm Tiếng An Nam và cuốn giáo lý song ngữ Việt – La (sách Phép Giảng Tám Ngày).


Sách 
Phép Giảng Tám Ngày (song ngữ) 
 
II. Thời tông tòa (1659 – 1960)
 
Trước những làm dụng của các vua bảo trợ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Tòa Thánh đã lấy lại quyền điều hành việc truyền giáo và thiết lập Bộ Truyền Giáo năm 1622. Tòa Thánh lập ra chức Đại Diện Tông Tòa cho các giám mục đang hoạt động truyền giáo trực thuộc Tòa Thánh.

Ngày 09.09.1659, Tòa Thánh thiết lập hai giáo phận đầu tiên trên đất Việt và đặt hai Đại Diện Tông Tòa:
      - Giáo phận Đàng Trong: từ sông Gianh trở vào phía Nam do Đức cha Lambert de la Motte phụ trách.
      - Giáo phận Đàng Ngoài: từ sông Gianh trở ra miền Bắc do Đức cha Phanxicô Pallu phụ trách.
Năm 1668, Đức cha Lambert de la Motte đã truyền chức linh mục cho bốn linh mục Việt Nam tiên khởi tại Thái Lan: Cha Giuse Trang, Cha Luca Bền, Cha Bênêđictô Hiền và Cha Gioan Huệ. Tiếp theo sau, nhiều linh mục Việt Nam cũng được thụ phong (năm 1700 là 43 linh mục; năm 1800 là 119 linh mục).

Vào tháng 02.1670, Đức cha Lambert de la Motte cùng với 3 vị thừa sai và 9 linh mục Việt Nam Đàng Ngoài đã họp Công Đồng đầu tiên trên đất Việt tại Phố Hiến, Hưng Yên.

Trước hiểm họa thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn có sự phân hóa sâu sắc giữa phái chủ chiến và phái chủ hòa. Trong bối cảnh phức tạp ấy, Nhà Nguyễn đã ban hành nhiều chỉ dụ cấm đạo từ năm 1833 – 1861.

Từ năm 1862, khi vua Tự Đức tuyên bố ngưng cấm đạo, các dòng tu và chủng viện được thành lập khắp nơi.

Trong bối cảnh khó khăn do chỉ dụ cấm đạo, niềm tin Kitô hữu được thanh luyện và số lượng người Kitô vẫn tiếp tục gia tăng (từ 320.000 năm 1800 lên 426.000 năm 1855). Trong số những người đổ máu đào minh chứng cho niềm tin, 117 vị đã được suy tôn chân phước trong 4 đợt: 64 vị năm 1900, 8 vị năm 1906, 20 vị năm 1909 và 25 vị năm 1951.

Ngày 11.06.1933, Giáo hội Việt Nam có Đức Giám mục tiên khởi, Đức cha Gioan Baotixia Nguyễn Bá Tòng.


Chân dung Thánh Tử Đạo Việt Nam
 
III. Giáo hội Công Giáo Việt Nam thời trưởng thành
 
Việc chọn Đức Giám mục địa phương vốn là mong ước của Thánh Bộ Truyền Giáo kể từ Huấn thị năm 1659. Sau đó, Đức Giáo hoàng XIII thúc đẩy công việc này nhanh hơn bằng việc thiết lập các tòa khâm sứ, với công tác trước mắt là chọn người địa phương lên chức giám mục.

Qua Tông hiến Venerabilium Nostrorum, ngày 24.11.1960, Đức Thánh Cha Gioan XXIII tuyên bố thành lập 3 giáo tỉnh tại Việt Nam: Hà Nội, Huế và Sài Gòn, cùng bổ nhiệm các giám mục chính tòa nơi mỗi giáo phận. Đứng đầu ba giáo tỉnh là ba vị Tổng Giám mục. Từ đây, các giáo phận tông tòa tại Việt Nam chuyển sang giáo phận chính tòa.

Lúc này, Giáo hội Việt Nam có 20 giáo phận: giáo tỉnh Hà Nội có 10 giáo phận, giáo tỉnh Huế có 4 giáo phận và giáo tỉnh Sài Gòn có 6 giáo phận. Số tín hữu là 2.096.540 người trên 29,2 triệu dân (chiếm 7,17%) với 1.914 linh mục, 5.789 nam nữ tu sĩ và 1.530 chủng sinh.

Tính đến ngày 13/10/2017, Giáo hội Việt Nam có 26 giáo phận, 121 giám mục (trong và ngoài nước). Theo báo cáo của các giáo phận tính đến ngày 31/12/2016, Giáo hội Việt Nam có 5.482 linh mục, 25.034 tu sĩ nam nữ và 6.812.954 tín hữu Công giáo. 
 

Đại hội Thánh Mẫu La Vang tại Huế năm 2017

IV. Lời kết
 
Nhìn lại lịch sử gần 500 truyền giáo trên đất Việt, người tín hữu Việt Nam xin cất cao lời ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa. Khi nhìn về quá khứ với cặp mắt đức tin, chúng ta nhận ra Thiên Chúa hằng hiện diện và đồng hành với Giáo hội Việt Nam trong từng bước đi, dù khi thành công hay thất bại, dù lúc chan hòa ánh sáng hay chìm trong bóng tối.

Xin cùng nhắc nhở với nhau: đức tin chúng ta lãnh nhận được gieo trồng và vun xới bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu đào của các vị tiền nhân. Vì thế, chúng ta cần hết sức trân trọng, gìn giữ và phát huy đức tin ấy bằng cả cuộc đời.
 
Trích từ tác phẩm Lược Sử Giáo Hội Việt Nam -
Dấu Ấn 350 Năm Giáo Hội Công Giáo Việt Nam
Nhà Xuất Bản Đông Phương, 2010
Tác giả: Lm. Phanxicô Đào Trung Hiệu, OP