Hiển thị các bài đăng có nhãn HỘI DÒNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HỘI DÒNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2024

THẢO LUẬN MÔN 3 LỜI KHẤN

THẢO LUẬN MÔN 3 LỜI KHẤN 

GIÁO SƯ: DÌ MARIA HOÀNG YẾN



THẢO LUẬN: 

Thánh Tôma Aquinô nói: “Tất cả mọi lời khấn đều dẫn tới mục đích là Đức ái, …” cụ thể:

+Chúng ta chia sẻ với nhau tình yêu huynh đệ, tình bằng hữu qua lời khấn Khiết tịnh.

+Chúng ta chia sẻ những gì mình có qua lời khấn Khó nghèo.

+Chúng ta chia sẻ với nhau mọi trách nhiệm trong cộng đoàn qua lời khấn Vâng phục.

Em có thể phân tích, giải thích và dẫn chứng bằng những ví dụ ba ý trên. 

 

TRÌNH BÀY

-Thánh Tôma Aquinô nói: “Tất cả mọi lời khấn đều dẫn tới mục đích là Đức ái, …” dựa vào câu nói trên, con đi tìm trong Từ Điển Công giáo về Đức ái và có kết quả như sau: Đức mến [Caritas, Charity, Charité]. Đức: ơn; mến: yêu thương. Đức mến: ơn yêu thương.

Đức mến (còn được gọi là đức ái) là ơn Thiên Chúa ban để con người yêu mến Ngài trên hết mọi sự và yêu thương tha nhân như chính mình. Đức mến là một trong ba nhân đức Đối Thần, được ban cho tín hữu khi họ lãnh Bí tích Thánh Tẩy.

Đức mến bắt nguồn từ Thiên Chúa, vì “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8), quy hướng về Thiên Chúa: “Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa” (1 Ga 4,16) và lan tỏa đến mọi người: “Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,21).

Đức mến cao trọng hơn cả, bao gồm và liên kết mọi nhân đức cách hoàn hảo (x. 1 Cr 13,13). Chính Chúa Giêsu đã tóm gọn Mười Điều Răn vào đức mến Chúa, yêu người (x. Mc 12,30-31). Đức mến được Chúa Giêsu đặt làm điều răn mới: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). [1]

Tóm lại, Đức ái được quy về một mối là MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI như chính bản thân mình, đó là nhân đức mà mọi Kitô hữu hướng đến. Còn đối với Tu sĩ nói chung và Tu sĩ con cái của Cha Thánh Đa Minh cách riêng, thì không những phải hướng đến “đức ái”, mà còn vươn lên “Đức ái trọn hảo” đã được Cha Thánh Đaminh để lại di ngôn: “Các con hãy có đức ái, giữ lòng khiêm tốn và tình nguyện sống nghèo”.[2] Không dừng lại ở đó, trong lời khấn Dòng của tu sĩ Đa Minh còn có câu: “Con quyết tâm cùng với chị em, sống đức ái trọn hảo theo ơn gọi Đa Minh”.

Như thế, đức ái là MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI như chính bản thân mình. Còn “đức ái trọn hảo” là đức ái của sự trọn vẹn, thành toàn, tận cùng cách tự nguyện như Chúa Giêsu đã nêu gương một tình yêu hy hiến (hy: hy sinh vì người mình yêu; hiến: hiến mạng sống vì tha nhân).

Hay như câu chuyện là dẫn chứng có thật từ người anh em Dòng Đa Minh của chúng ta, Cha Giuse Nguyễn Ngọc Thanh O.P, vì yêu Chúa và thương mến tha nhân, trước khi chết, Cha đã nhắn gửi trong hơi thở yếu ớt lời tha thứ cho hung thủ đã sát hại mình, với 2 nhát dao chém thẳng vào đầu ngay tại tòa giải tội.

- Chúng ta chia sẻ với nhau tình yêu huynh đệ, tình bằng hữu qua lời khấn Khiết tịnh: ý thức rằng sự khiết tịnh là hồng ân Chúa ban, nên khi sống cộng đoàn với nhau thì mình cần có sự thông cảm, dễ dàng bỏ qua và tha thứ cho nhau, nâng đỡ nhau với thái độ biết ơn, tạ ơn Chúa, tri ân Hội Dòng đã qui tụ chúng ta từ khắp nơi về nơi đây để sống chung, sống cùng và sống với nhau, cũng như cần có thái độ biết ơn và khiêm nhường nhìn nhận sự giới hạn và dòn mỏng của mình, không ai là một hòn đảo, mình cần chị em nâng đỡ, giúp sức, thì chị em cũng cần đến sự công tác của mình, cần biết ơn khi chị em giúp mình và mình cũng cần đi bước trước đến với chị em.  

- Chúng ta chia sẻ những gì mình có qua lời khấn Khó nghèo: những nén vàng nén bạc Chúa trao cho mỗi người đó là sức khỏe, kiến thức, tài năng, nhân đức, cả con người và toàn bộ cuộc sống v.v… “có” thì mình cần “cho đi” mà không khư khư giữ lại, không đòi hỏi người được cho phải đền đáp hay đáp trả ơn nghĩa cho mình như lời bài hát “Quảng đại dâng hiến” với lời kinh của Thánh Ignatio Loyola: Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa dạy con … biết cho đi, mà không tính toán, biết chiến đấu, không ngại thương tích, biết làm việc, không tìm nghỉ ngơi, biết hiến thân mà không mong chờ, phần thưởng nào hơn, là được biết con đang thi hành ý Chúa. Con xin dâng Chúa, con người của con, những gì con có xin dâng lại cho Chúa, này là tự do lý trí của con, này là trí nhớ trí hiểu của con, mọi sự đều thuộc về Chúa, xin dùng con theo thánh ý Ngài, xin ban tình yêu và ân sủng Chúa; khi rộng mở cho đi cách quảng đại, phục vụ với tinh thần hăng hái, thi hành sứ vụ với sự nhiệt tâm nhiệt tình thì tâm hồn mình sẽ được mở rộng để đón nhận, nhận lãnh ân sủng Chúa tuôn đổ trên hành trình phục vụ, hiến dâng cách nhưng không, vì chúng ta đã được Chúa trao ban nhưng không thì chúng ta cũng cho đi cách nhưng không như vậy, có cho đi thì mới nhận lãnh (Kinh Hòa Bình – Lời kinh của Thánh Phanxicô Asisi).

Dẫn chứng cho điều này là đó là sự kiện dịp tết vừa rồi, nhà TVT chúng mình được đi thực tế, em phát 1 phần bánh nho nhỏ và 1 bao lì xì cho 1 cậu bé ngồi trong xó cây ATM trên đường Quang Trung, phản ứng của cậu bé là cầm lấy bao lì xì, nhưng lại thẳng tay quăng phần bánh ra đường cách không thương tiếc, không một lời cảm ơn hay một cử chỉ lịch sự. Tuy không phản ứng gay gắt gì với cậu bé, nhưng em có 1 vài trăn trở, liệu rằng mình có khắt khe với người nghèo quá không nhỉ? Mình có đòi hỏi quá đáng với họ phải đáp trả việc từ thiện của mình bằng những câu nói lịch sự hay những điều mình mong muốn họ phải đối đáp với mình, đó cũng là 1 cái nghèo của họ, họ không có, không biết đến những cử chỉ lịch sự, vì thế, mình cần phải ân cần hơn, dù chỉ là vô tình gặp họ và sẽ không còn cơ hội gặp lại họ nữa, nhưng lời cầu nguyện cho họ thì không bỏ phí trước mặt Chúa bao giờ, cũng từ hình ảnh của cậu bé ấy, mình cũng cần phải chỉ dẫn cách cẩn thận hơn cho các cháu thiếu nhi mà trong tương lai mình có trách nhiệm hướng dẫn về bài học nhân bản, cảm ơn khi nhận quà từ người khác, thay thẳng thắn từ chối cách lịch sự món quà mình không có nhu cầu, v.v…

- Chia sẻ với nhau mọi trách nhiệm trong cộng đoàn qua lời khấn Vâng phục: để xây dựng cộng đoàn theo cấu trúc Chúa Ba Ngôi (tuy 3 ngôi nhưng chỉ có 1 Chúa), nhưng làm sao để hiệp nhất như thế trong khi “9 người thì đã 10 ý rồi”, em xin đưa ra một vài ý như sau:

·       Tôn trọng nhau, tôn trọng các công trình của người đi trước.

·       Hy sinh cho nhau.

·       Đón nhận nhau, chấp nhận nhau dù khác biệt nhau.

·       Lắng nghe nhau.

·       Chân thành với nhau và cầu nguyện cho nhau.

·       Chân thành góp ý và sửa bảo huynh đệ.

·       Khiêm tốn đón nhận góp ý của chị em.

 TÊRÊSA KIỀU DIỄM (TVT)

 

 

 



[1] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM - TỪ ĐIỂN CÔNG GIÁO - TỪ VỰNG "ĐỨC MẾN" - NXB TÔN GIÁO 2016 - TRANG 294. 

[2] HỘI DÒNG ĐA MINH GÒ VẤP – HIẾN PHÁP HỘI DÒNG NỮ ĐA MINH GÒ VẤP 2023 – HIẾN PHÁP SỐ 21 – TRANG 18. 

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2024

Chân lý [Veritas, Truth, Vérité] - TỪ ĐIỂN CÔNG GIÁO

 

CHÂN LÝ - TỪ ĐIỂN CÔNG GIÁO

Veritas, Truth, Vérité

Chân: thật; Lý: lẽ. Chân lý: lẽ thật.

Chân lý là lẽ thật vốn có một cách khách quan. Người ta phải nhìn nhận nó, không tùy thuộc vào sở thích hay ý muốn cá nhân.

Theo triết học, chân lý là thực tại trong nhận thức của con người đúng như chúng tồn tại nơi thực tế khách quan. Như thánh Thomas de Aquino nói: “Chân lý là sự tương hợp giữa sự vật và trí khôn” (Veritas est adaequatio rei et intellectus).

Chân lý là một nhân đức, cốt tại việc con người tỏ ra mình thành thật trong các hành vi và lời nói; tránh xa lối sống hai mặt, dối trá và đạo đức giả (x. GLHTCG 2505).

Nguồn gốc của chân lý chính là Thiên Chúa, những lời của Ngài không thể sai lầm (x. 2 Sm 7,28): “Căn nguyên Lời Ngài là chân lý, mọi quyết định công minh của Ngài tồn tại muôn năm” (Tv 119,160).

Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian là để “làm chứng cho sự thật” (Ga 18,37). Chính Chúa Giêsu đã xưng mình: “Chính Thầy là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (x. Ga 14,6). Người mặc khải về Thiên Chúa Cha: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14.9).

Chúa Thánh Thần được gọi là Thần Chân Lý, vì Ngài làm chứng cho Đức Kitô và dẫn đưa các môn đồ đến chỗ hiểu biết trọn vẹn giáo lý của Đức Kitô (x. Ga 14,26; 15,26-27; 16,12-13).

Tiểu ban Từ vựng - UBGLĐT/HĐGMVN


FOOTNOTE: HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM - TỪ ĐIỂN CÔNG GIÁO - TỪ VỰNG "CHÂN LÝ" - NXB TÔN GIÁO 2016 -  TRANG 123. 

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2024

BÀI THU HOẠCH - MÔN TÔNG HUẤN GAUDETE ET EXSULTATE (Hãy vui mừng hoan hỉ) - VỀ ƠN GỌI NÊN THÁNH TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY

 

HỘI DÒNG NỮ ĐA MINH GÒ VẤP

TIỀN VĨNH THỆ GIOAN PHAOLO II

Họ và Tên:

TÊRÊSA NGUYỄN KIỀU DIỄM

Số tờ: 02

BÀI THU HOẠCH

MÔN TÔNG HUẤN VỀ ƠN GỌI NÊN THÁNH TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY

Năm: 2023 – 2024

Ngày 11/3/2024

 

ĐIỂM

NHẬN XÉT

 

 

 

 

TRÌNH BÀY

Tông huấn “Hãy vui mừng hoan hỉ” (Gaudete et Exsultate) của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về Ơn gọi nên Thánh trong thế giới hôm nay như lời mời gọi của Chúa Giêsu thúc bách con “Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48) và cũng là lời mời gọi của Mẹ Hội Dòng trong chương trình học của giai đoạn Tiền Vĩnh Thệ có hẳn môn học về Tông huấn này. Xin tạ ơn Chúa và con xin tri ân Mẹ Hội Dòng đã cho chị em chúng con được sống trong bầu khí linh thánh và thiêng liêng của giai đoạn Tiền Vĩnh Thệ.

Đầu tiên, con luôn thầm tạ ơn Chúa vì đã ban cho con cái phúc được làm con Chúa, được sống, được nuôi dưỡng, chăm sóc, được lớn lên trong gia đình Công giáo và được Chúa mời gọi bước theo Chúa trong ơn gọi Dòng Đa Minh Gò Vấp, con cũng nhìn lại những ngày đầu tiên được chập chững bước chân vào đời tu trong giai đoạn Thỉnh viện, được sống và trải nghiệm tiến trình nên thánh với vai trò là người em út trong Nhà Dòng và tập tành, bắt chước nơi một số mẫu gương tốt lành, thánh thiện sống động của các chị đi trước, trong các giờ kinh chung, trong đời sống cộng đoàn, v.v…Rồi sau đó con được chuyển tiếp lên các giai đoạn tiếp theo Tiền Tập, Tập viện với lời khấn tạm nhưng với ý hướng trọn đời, Học viện với thời gian được học hành, nghiên cứu Thánh khoa và thực tập sứ vụ Tông đồ. Và năm nay, con đang ở giai đoạn Tiền Vĩnh Thệ là thời gian đặc biệt giúp con bồi dưỡng tâm linh để chuẩn bị cho ngày thánh hiến trọn đời.[1] Thời gian này nhằm giúp con cảm nghiệm và đi sâu vào tương quan cá nhân với Thiên Chúa qua sự hiệp thông mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể, với Lời Chúa và trong sự hiệp thông cộng đoàn; giúp con nhận thức sâu xa về giá trị ba lời khấn và việc thực hiện cam kết hiến thân trọn đời cho Thiên Chúa trong Hội Dòng; giúp con nhìn lại toàn bộ hành trình thánh hiến của mình, để khơi dậy ước muốn bền bỉ và ý thức hiến thân trọn đời cho Thiên Chúa trong sứ vụ loan báo Tin Mừng.

Thật vậy, mỗi một giai đoạn con tiến bước, cũng đều có những chương trình đào tạo, có tiến trình giúp con cố gắng, nỗ lực để thăng tiến và trưởng thành hơn trong đời sống thánh hiến, và giai đoạn Tiền Vĩnh Thệ cũng thế, giai đoạn này đào tạo con người trưởng thành toàn diện về nhân cách trong đời tu và đời sống huynh đệ cộng đoàn; đặc biệt, trưởng thành đời sống tâm linh, tinh thần tự hủy, hy sinh và phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa qua Hội Dòng; giúp con biết tổ chức thống nhất đời sống, hầu có thể tháp nhập đời sống và sứ vụ của mình vào đời sống và sứ vụ của Chúa Giêsu, trở nên đồng hình đồng dạng với Người trong lễ dâng trọn vẹn của Người và phục vụ anh chị em đồng loại.[2]

Trong giai đoạn Tiền Vĩnh Thệ, cũng có chương trình thiêng liêng: con được thực hiện theo chương trình thiêng liêng chung của cộng đoàn; Hằng ngày, dành thời gian cầu nguyện riêng trước Chúa Giêsu Thánh Thể và hồi tâm xét mình cuối ngày; Hằng tuần, đọc sách thiêng liêng chung 30 phút, thực hành Lectio Divina chung 30 phút, một giờ cầu nguyện riêng trước Chúa Giêsu Thánh Thể; Hàng tháng tĩnh tâm và lãnh bí tích Hòa Giải; và sắp tới trước khi Vĩnh khấn, chúng con có mười ngày tĩnh tâm riêng và hồi tâm cho đến ngày Vĩnh khấn.

 

Cũng trong năm Tiền Vĩnh Thệ này, con được học các môn: Đời Sống Tâm Linh, Tông Huấn “Về Ơn Gọi Nên Thánh trong Thế Giới Ngày Nay”, Huấn Thị “Đời Sống Huynh Đệ trong Cộng Đoàn”, Hiến Pháp, Nội Qui, Công Vụ Tổng Hội, Quy Chế Đào Tạo (giai đoạn Tiền Vĩnh Thệ và Thường Huấn), Chia sẻ phương cách thực hành ba Lời Khấn Dòng, Cửu Loại Tính.

 

Qua tiến trình để nên Thánh trong hành trình dâng hiến, con luôn trung thành và mau mắn thực hiện các chương trình chung, con luôn ý thức mình là môn sinh bước theo Chúa, để đáp lại lời mời gọi của Chúa, con tâm niệm nỗ lực và cố gắng chu toàn bổn phận là nên thánh trong giây phút hiện tại (ĐHV 17). Nguyện xin Chúa chúc lành và ban ơn hồng ân trung tín và niềm vui kiên trì để con luôn mau mắn thi hành và vâng theo thánh ý Chúa trong vui tươi và bình an.  

 



[1] NQ 2006, số 97.5.1.

[2] x. ĐSTH 65; YTCY 44-45.

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2024

HUẤN THỊ ĐỜI SỐNG HUYNH ĐỆ CỘNG ĐOÀN - CỘNG ĐOÀN LẮNG NGHE VÀ THỰC HÀNH LỜI CHÚA

HỘI DÒNG NỮ ĐA MINH GÒ VẤP

TIỀN VĨNH THỆ GIOAN PHAOLO II

Họ và Tên:

TÊRÊSA NGUYỄN KIỀU DIỄM

Số tờ: 03

BÀI THU HOẠCH

MÔN HUẤN THỊ ĐỜI SỐNG HUYNH ĐỆ CỘNG ĐOÀN

Năm: 2023 – 2024

Ngày 26/1/2024

 

ĐIỂM

NHẬN XÉT

 


Đề bài: Cộng đoàn sống và thực hành Lời Chúa

TRÌNH BÀY

"Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bướclà ánh sáng chỉ đường con đi" (Tv 119, 105). Sau khi học hiểu và củng cố lại kiến thức Huấn Thị Đời Sống Huynh Đệ Cộng Đoàn. Con xin chọn đề tài Cộng đoàn sống và thực hành Lời Chúa” để trình bày khía cạnh trong đời sống cộng đoàn.

Thử nghiệm mà xem, bất cứ điều gì, lãnh vực nào, nền tảng chi cũng đều có Lời Chúa trích dẫn như kim chỉ nam hướng đến điều hoàn thiện, tuyệt hảo, viên mãn thì đời sống thánh hiến cũng thế. Lời Chúa là nguồn mạch nuôi dưỡng và len lỏi vào từng ngõ ngóc ngách trong mọi khía cạnh của đời sống con người và cụ thể hơn là đời sống thánh hiến: Trong Thánh lễ, Các Giờ Kinh Phụng vụ, Chầu Thánh Thể, công bố Lời Chúa giúp mỗi thành viên trong cộng đoàn ăn sâu hơn vào tâm trí. Đồng thời, việc suy niệm Lời Chúa, chia sẻ Lời Chúa trong cộng đoàn cũng tạo nên bầu khí hiệp thông huynh đệ, hiểu và cảm thông là mối dây thắt chặt tình huynh đệ cộng đoàn.

Để thực hiện chủ đề Năm Mục vụ 2024 “Thúc đẩy sự tham gia đời sống Giáo hội”, với mô hình Hội thánh hiệp hành, Đức Tổng Giám Mục Giuse Nguyễn Năng đã nêu lên giá trị và định hướng của Tin Mừng trong sự hiệp thông, tham gia và sứ vụ. Trong tiến trình ấy, Đức Tổng Giuse cũng mời gọi Giáo phận Sài Gòn nói chung và cách riêng là mỗi cá nhân, đặc biệt hơn là mỗi tu sĩ chúng ta thực hiện điểm nhấn đó là vực dậy tinh thần khao khát đọc, học hỏi, suy ngẫm, cầu nguyện và sống Lời Chúa với mục đích là để khơi dậy một tinh thần mới, lòng khao khát Lời Chúa và sống Lời Chúa. Ắt hẳn chúng ta còn nhớ đến chủ đề trong sứ điệp truyền giáo 2023 của Đức Thánh Cha Phanxicô là “Lòng bừng cháy, chân bước nhanh”, thế thì tu sĩ phải là những người có lòng khao khát Lời Chúa cách bừng cháy hơn và chân bước nhanh hơn để gắn bó với Lời Chúa.

Quả không sai khi thực hiện chủ đề tham gia vào đời sống Giáo hội, không ai cho cái mà họ không có, mỗi tu sĩ phải “có” chút gì đó, thì mới “cho” được, theo tinh thần linh đạo của Dòng Đa Minh “Nói với Chúa [có], và nói về Chúa [cho]”, nói với Chúa đó là đi tìm cái “có”, có Chúa khi ta tham dự Thánh lễ, các Giờ Kinh Phụng vụ, giờ Chầu Thánh Thể, Lectio Divina, cầu nguyện chung riêng hằng ngày và chia sẻ Lời Chúa trong cộng đoàn, cũng trong cộng đoàn nơi con đã từng hiện diện, cũng đều có những bảng biểu để viết câu Lời Chúa như ý lực sống trong ngày. Ngay cả ban Truyền thông của Hội Dòng chúng ta cũng có chương trình “Suy niệm Lời Chúa hằng ngày” được đăng trên nền tảng youtube, trên trang web của Hội Dòng như cách thức vực dậy tinh thần những ai thiện chí khao khát tìm hiểu và học hỏi Lời Chúa, có như thế thì chúng ta mới mạnh dạn và tự tin “nói về Chúa”, chia sẻ, trao tặng cho hết thảy những ai chúng ta gặp.

Hơn ai hết, từ cá nhân mỗi tu sĩ sau đó lan tỏa cho cả cộng đoàn, phải luôn là những người gắn bó khăng khít và mật thiết với Lời Chúa, làm sao để làm cho Lời Chúa thấm nhuần vào trong tiềm thức, trong tâm tư, tình cảm và trong suy nghĩ của mỗi tu sĩ chúng ta, để con người chúng ta phải thực sự là con người của Lời Chúa, phân định và suy nghĩ theo Lời Chúa, hành động và quyết định theo tiêu chuẩn của Lời Chúa, bởi vì, nếu chúng ta không sống theo Lời Chúa thì đời tu của chúng ta sẽ rất hời hợt và đời sống của chúng ta chỉ là tối thiểu mà thôi, chứ chưa phải là tối đa.

Rồi biết đâu bất ngờ, tai bay vạ gió ập tới, một chút thử thách trong đời sống, Bề trên phải đưa ra quyết định, còn tôi thì muốn theo ý riêng mình, lúc đó sẽ rất dễ dàng và sẵn sàng từ bỏ ơn gọi để ra đi theo sở thích, theo ý muốn của mình. Như vậy nghĩa là Lời Chúa chưa thấm nhuần vào trong con người, ví như tôi chỉ đi theo Chúa là khi ý Chúa còn phù hợp với ý tôi, còn khi mà tôi gặp hoàn cảnh không thích hợp với tôi, trái với ý muốn của tôi, thì lúc đó, liệu rằng, tôi còn có khả năng để sống theo Lời Chúa hay không? Bao lâu mọi sự còn vừa ý tôi thì Lời Chúa rất tuyệt vời, tốt rất tốt, hay rất hay và đẹp rất đẹp, tôi sống Lời Chúa vì Lời Chúa đang rất hợp với tôi, còn khi Lời Chúa không còn phù hợp với tôi nữa thì tôi sẽ rũ bỏ. Đặt trường hợp, nếu tôi làm theo Lời Chúa như thế, thì tôi sẽ phải hy sinh, vậy tôi có dám hy sinh đời tôi cho Lời Chúa hay không?

Vì Lời Chúa quá thách đố, cho nên, phải suy gẫm Lời Chúa và để cho Lời Chúa thấm thật thấm, thấm sâu thật sâu trong lòng mình, để mình dám quyết định và chọn lựa theo thánh ý Chúa, chứ đừng chọn lựa theo ý riêng mình. Nhờ Lời Chúa, chúng ta được tăng cường và bồi bổ, dưỡng sức cho đời sống nội tâm.

Thánh Alberto Cả nói, chúng ta cần phải “thường xuyên được nuôi dưỡng bằng sự ngọt ngào của Lời Chúa, Lời đã trở thành xác phàm và ở giữa chúng ta”, trong những người anh chị em nhỏ bé nhất, đặc biệt là trong cộng đoàn, trong Hội Dòng chúng ta. [1] Cộng đoàn phải được xây dựng trên nền tảng Lời Chúa, sống với nhau trong tinh thần “Tám Mối Phúc Thật”, trong tình yêu thương huynh đệ của Tin Mừng, bác ái huynh đệ là biểu hiện tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa. [2] Chúng ta được biến đổi nhờ dìm mình trong Lời Chúa. Lời Thiên Chúa hoạt động trong ta, nuôi dưỡng chúng ta, làm cho chúng ta trở nên sống động, trở nên người, đưa chúng ta vào cuộc đời, hình thành trong ta tình bằng hữu là chính sự sống của Thiên Chúa. [3] Một cộng đoàn trao ban sự sống sẽ là một cộng đoàn trong đó chúng ta trân trọng và chia sẻ Lời Chúa. Chúng ta đọc Kinh Thánh mỗi ngày như lương thực buôi dưỡng tinh thần, cải thiện đời sống, bồi bổ nhiệt tâm tông đồ. [4]. Xin Chúa giúp con luôn biết khao khát kiếm tìm và học hỏi Lời Chúa để đem Tin Mừng của Chúa đến với mọi người. 

 



[1] HỘI DÒNG ĐA MINH LẠNG SƠNCANH TÂN ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN: THỰC THI QUYỀN BÍNH TRONG MỘT CỘNG ĐOÀN TRƯỞNG THÀNH – THÁNG 3/2018 – TRANG 20.

[2] HỘI DÒNG ĐA MINH LẠNG SƠNCANH TÂN ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN: THỰC THI QUYỀN BÍNH TRONG MỘT CỘNG ĐOÀN TRƯỞNG THÀNH – THÁNG 3/2018 – TRANG 20.

[3] HỘI DÒNG ĐA MINH LẠNG SƠNCANH TÂN ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN: THỰC THI QUYỀN BÍNH TRONG MỘT CỘNG ĐOÀN TRƯỞNG THÀNH – THÁNG 3/2018 – TRANG 21.

[4] X. HP 48.2; GL 663.3

Thứ Hai, 5 tháng 2, 2024

BIẾT HỌC

 

BIẾT HỌC

Công Minh Tuyên đến học thầy Tăng Tử đã ba năm, thầy để ý thấy Công Minh Tuyên ít đèn sách như các bạn, nhưng cuộc sống khá tốt với mọi người. Thầy hỏi:

-Thầy thấy con ít chịu khó học hành như các bạn, thế là làm sao?

-Thưa thầy, đúng như thế, con xin thầy tha thứ. Con thú thật với thầy:

-Thầy là tấm gương cho con học để sống cho ra người, chữ nghĩa cũng là quan trọng, nhưng con nghĩ chưa quan trọng bằng việc học làm người: con thấy thầy là một ông quan trong triều, ai cũng trọng cũng nể, vì thầy theo công tâm mà làm, không thiên vị ai, thầy trung nghĩa với vua, hiếu với dân, với luật pháp, nhưng thầy cũng thương dân thương nước. Khi thầy phải kết án người có tội, thầy không như các quan án, cứ lý mà xử, nhưng thầy xét hoàn cảnh người ta, ôn tồn khuyên bảo họ sửa đổi đời sống, chấp nhận hình phạt để có dịp làm lại cuộc đời, khỏi khổ cho mình, cho gia đình và mọi người, vì thế họ không hề oán thầy. Dù thầy là quan lớn, khi về nhà, thầy chẳng tỏ mình là quan lớn, thầy vẫn luôn kính trọng cha mẹ như một người con thảo, anh chị em thầy hết lòng giúp đỡ, ngay cả đến kẻ ăn người ở, thầy cũng chẳng nặng lời với ai. Bạn bè thầy, dù người sang kẻ hèn, thầy đều tiếp đãi thân tình như nhau, không trọng giàu khinh nghèo. Con học những điều đó để sống mà vẫn chưa được. Con đâu có dám không học.

-Vậy ra con biết học hơn thầy. Đúng là hậu sinh khả úy.

Phần chúng ta, những người con Chúa, chúng ta học với Chúa Giêsu: “hiền lành và khiêm nhường thật trong lòng” và cứ phải học đi học lại mỗi ngày. Chúng ta tin tưởng vào ơn Chúa và nỗ lực cộng tác. Chúng ta cùng suy tư:

·      Lời mời gọi của Chúa luôn gây xáo trộn đời con

·      Bao dự định riêng tư dường như mất hút trong đời

Con mong ước thế này, Chúa lại mong ước thế kia

Con không sao hiểu được, nhưng xin tin vào tình thương của Ngài.

·                    Giêsu chí ái chí nhân

Con xin tận hiếntheo chân suốt đời

·                    Tấm lòng trong trắng trẻ thơ

Ai không nên giống đừng mơ thiên đàng

·                    Thương thì tha thứ thứa tha

Thứ tha tha thứ, thứ tha thật thà.


LINH THAO 2018 - tại Phú Dòng

Tập viện Cartarina Siena 5/2018

Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

CUỘC CHIẾN ĐẤU THIÊNG LIÊNG

 

CUỘC CHIẾN ĐẤU THIÊNG LIÊNG

Rm 7, 15

Ep 6, 10-18

Đức cha Thiamer Toth kể trong cuốn “chí khí người thanh niên”:

Một thầy dòng sau một ngày lao động trở về, cha Bề trên hỏi:

-Con có mệt không?

-Thưa cha có, nhưng về nghỉ ngơi, tắm giặt, cơm tối, kinh tối, rồi đi ngủ, ngày mai con lại khỏe và đi làm như thường, nhưng có một việc, con phải làm hoài mà không hoàn thành nổi. Mỗi ngày:

1.Con phải coi hai con nai, nó muốn chạy tứ tung.

2.Con phải coi hai con diều hâu, nó rình bắt các con gà con.

3.Con phải coi một con cá sấu, muốn đớp người ta.

4.Con phải coi một con gấu, nó muốn vồ lấy người ta.

5.Con phải săn sóc một bệnh nhân mắc đủ thứ bệnh.

-Nhà mình đâu có như thế, chỉ sở thú mới có thôi. Bệnh nhân nhà mình có, nhưng chỉ một vài bệnh nhân thôi.

-Thưa cha, con muốn nói tới:

1.Con phải coi hai con nai là đôi chân của con, để nó khỏi tìm đến nhưng nơi con thích đến.

2.Con phải coi hai con diều hâu là đôi mắt của con, để nó khỏi làm con vấp ngã, khỏi những cái nhìn ganh tỵ, soi bói.

3.Con phải coi một con cá sấu là cái miệng của con, để nó khỏi thốt ra những lời khó nghe, xúc phạm đến anh chị em, khỏi mất bầu khí huynh đệ.

4.Con phải coi một con gấu là trái tim con, để nó khỏi bùng lên giận dữ.

5.Con phải coi bệnh nhân là chính con, mắc đủ những chứng bệnh nêu trên.

-Vậy là thầy biết tu đấy, ở tuổi thầy, tôi chưa biết học tu thân như thầy. Dần dần tôi mới học được tu thân là gì, xin mừng cho thầy và xin Chúa trợ giúp thầy vì tất cả chúng ta đều là những con người yếu đuối, mắc bảy mối tội đầu. Cả cuộc đời anh em chúng ta, ai cũng phải chiến đấu với bản thân, đam mẹ xác thịt. Chúng ta không thể thắng nếu không có ơn Chúa. Vì vậy chúng ta phải cầu xin ơn trợ giúp cho mình và cho mọi người, vì chỉ có Chúa mới giải thoát chúng ta được mà thôi.


TĨNH TÂM NĂM 2018 - tại Phú Dòng.

TẬP VIỆN CATERINA SIENA 5/2018





 

Thứ Tư, 31 tháng 1, 2024

TÌM HIỂU DANH HIỆU, KHẨU HIỆU, HUY HIỆU DÒNG ĐA MINH

 

TÌM HIỂU DANH HIỆU, KHẨU HIỆU, HUY HIỆU DÒNG ĐA MINH




I. Danh hiệu

Tại Việt Nam cũng như ở các nơi khác, Dòng được gọi qua danh tánh của vị sáng lập (Dòng Đa Minh, Dominicains, Dominicans), chứ ít khi được biết qua danh hiệu chính thức là “OP”. Chúng ta hãy tìm hiểu lịch sử và ý nghĩa của cả tên tục lẫn tên cúng cơm: mỗi tên đều hàm chứa ý nghĩa thâm thúy (kể cả các biệt hiệu mà người ngoài gán cho Dòng).

1. Dòng Đa Minh

Không rõ tại Việt Nam, từ “Dòng Đa Minh” xuất hiện từ bao giờ (có lẽ chỉ trong khoảng hậu bán thế kỷ XX thôi). Các sách cổ xưa đều viết là “Dòng ông thánh Đôminicô” hay “Dòng ông thánh Dumingô”. Đôminicô bởi tiếng La tinh (Dominicus), Dumingô bởi tiếng Tây Ban Nha (Domingo).

Nên biết là bên cạnh từ Đa Minh, chúng ta còn gặp hai từ nữa: Đạo Minh (bút hiệu của đức cha Trương Cao Đại), và nhất là Đỗ-minh. Nhiều khi vì muốn ngắn gọn và tăng thêm tình đằm thắm, người ta gọi là “Dòng họ Đa”. Tuy nhiên, nếu đi lục lọi sổ hộ tịch khắp nước Việt Nam, chắc là khó tìm được một người mang họ Đa (đừng kể mấy anh ba gốc Hoa hay gốc Hàn). May thay, các cha Đa Minh Lyon đã giúp cho chúng ta “hội nhập văn hóa”. Khi sang truyền giáo ở nước mình, các ngài đã Việt hóa tên họ của mình ra là “Đỗ Minh” (chẳng hạn: cha Alexis Cras mang danh là Đỗ Minh Vọng). Họ “Đỗ” mới thực sự là của Việt Nam! Chúng ta hãy kính cẩn cúi đầu chào các cố Tây đi, bởi vì các ngài thông hiểu phong tục dân An Nam hơn chúng mình!

Trở về với tên của thánh tổ phụ theo tiếng La tinh Dominicus, chúng ta biết rằng đây không phải là một danh tính độc đáo gì, bởi vì gần quê Caleruega đã có một ông thánh mang tên Dominicus rồi, đó là Dominicus Silos. Thế nhưng các anh em ta cũng đã cố gắng tán tự để chứng tỏ rằng “danh là người”. Trong bài kinh hướng về thánh tổ phụ, cha Giorđanô đã tán giải Dominicus là “vir Domini” (con người của Chúa: vir electe a Domino, vir Dei)[3] và “Domini-cus(tos)” (người giữ gìn đoàn chiên Chúa: Et esto nobis verus Dominicus, Domini gregis custos assiduus). Lối giải thích này sẽ đưa chúng ta đến một câu chuyện dài giòng khác.

Thực vậy, các tu sĩ dòng Đỗ-minh được gọi là Dominicani, nhưng cũng có người gọi là Domini-canes: “những con chó của Chúa”. Đây không phải chỉ là một lối chơi chữ (bởi vì không ai tán “Franciscani” là “Franciae canes”), nhưng có dụng ý ám chỉ sứ mạng của Dòng. Theo cha Giorđanô (Libellus, chương 2), khi mang thai bà mẹ đã mơ thấy đứa con sắp ra đời sẽ như con chó ngậm cây đuốc đi đốt cả thế giới. Thực ra thì một thế kỷ trước đó, bà mẹ của thánh Bernarđô (1090-1153) cũng mơ thấy mình mang trong bụng một con chó bạch lưng đỏ đang sủa (xc. Alanus, Vita secunda S. Bernardi: PL 185, col. 470). Đây là một hình ảnh khá quen thuộc vào thời Trung cổ. Con chó canh giữ đàn chiên (chó berger), và sủa rống lên để xua đuổi sói rừng. Nó tượng trưng cho nhà giảng thuyết: một đàng sủa lên bằng lời giảng để hun nóng đức tin của các tín hữu, một đàng sủa để xua đuổi các lạc giáo. Như ai nấy đều biết, một đức tính của chó là sự trung thành: trung thành với Lời Chúa, trung thành canh giữ đoàn chiên Chúa (Domini- custos là thế đó). Trải qua lịch sử, các tu sĩ Dòng Đa Minh được tặng (vừa thương vừa ghét) biệt hiệu là “canes” (chó săn, tựa như từ watchdog trong tiếng Anh) không những vì sứ mạng giảng thuyết mà còn vì vai trò lùng bè rối nữa (Inquisitio).[4]

Biệt hiệu “Domini canes” cũng hầu như đồng nghĩa với biệt hiệu “pugiles fidei” (chiến sĩ đức tin). Trong bản Hiến pháp trước năm 1968, người ta quen trưng dẫn (ngay từ số mở đầu) một chiếu dụ của đức giáo hoàng Honoriô III (bulla Nos attendentes, đề ngày 26/1/1217) trong đó ngài tiên báo các tu sĩ Dòng Giảng thuyết sẽ là các “futuros pugiles fidei et vera mundi lumina” (chiến sĩ đức tin và ánh sáng trần thế). Bản Hiến pháp hiện hành đã loại bỏ biệt hiệu này. Lý do không phải bởi vì muốn tỏ ra chủ hòa (pacifist), ngại đấm đá (pugiles: võ sĩ đấm đá), nhưng bởi vì chiếu dụ nói trên hoàn toàn bịa đặt (do Galvano della Fiamma O.P.), khoảng năm 1340, chứ không phải do Toà thánh ban cấp.[5] Dù sao, ngay từ những năm đầu tiên của Dòng, biệt hiệu “pugiles fidei” đã được lưu hành, lúc đầu để tặng cho thánh Phêrô Vêrona (đức giáo hoàng Innocentius V, bulla canonizationis, 25/3/ 1253), dần dần cũng áp dụng cho các tu sĩ cùng Dòng nữa.

2. Dòng Giảng thuyết (Dòng Thuyết giáo)

Đây là tên huý của Dòng, viết tắt là “O.P.”.[6] Đã hơn một lần tôi được nghe vấn nạn: tại sao gọi là “Dòng Giảng”? Linh mục nào mà chẳng giảng? Đâu có ai lập “Dòng dâng lễ” hay “Dòng giải tội” đâu?

Cần phải dành nhiều thời giờ để trả lời cho các câu hỏi đó. Tôi xin khất lại trong một bài khác, khi nghiên cứu sứ vụ chính yếu của Dòng cũng như những phương tiện để thực hiện sứ vụ ấy (chương IV). Ở đây chỉ xin ghi nhận vài chi tiết có tính cách lịch sử. Vào đầu thế kỷ thứ XIII, đang khi mà các nhóm lạc giáo nổi lên gieo rắc các tà thuyết, thì thay vì chú tâm vào việc giảng thuyết đạo lý các giám mục để tâm trí vào những chuyện khác. Công đồng Laterano IV (12-30/11/1215) đã yêu cầu các giám mục hãy tìm những người có khả năng để cộng tác với mình trong công tác giảng giải.[7]

Trước đó vài tháng (khoảng tháng 6-7), đức cha Foulques, giám mục Toulouse đã đặt anh Đa Minh và các đồng bạn làm “praedicatores” trong giáo phận.[8]

Nên biết là trong sắc lệnh của đức Hônôrius III châu phê Dòng (22/12/1216), chưa thấy xuất hiện danh hiệu “Dòng Giảng thuyết”. Văn kiện chỉ nói đến những người đã chọn nếp sống tu trì theo kiểu các kinh sĩ (ordo canonicus, qui secundum Deum et beati Augustini regulam in eadem ecclesia – i.e. Sancti Romani Tolosani – institutus esse dignoscitur). Một tháng sau đó, trong thư gửi cho Đa Minh đề ngày 21/1/1217 (mở đầu với những lời Gratiarum omnium largitori), ta mới thấy xuất hiện danh xưng “giảng thuyết” (Honorius episcopus, servus servorum Dei, dilectis filiis priori et fratribus Sancti Romani praedicatoribus in partibus Tholosanis, salutem et apostolicam benedictionem). Nguyên bản có mang dấu cạo sửa. Lúc đầu, đức thánh cha đọc cho thư ký viết là “praedicantibus” (những người đang đi giảng ở Toulouse); nhưng sau đó đã sửa lại thành “praedicatoribus” (những nhà giảng thuyết, những người thuyết giảng chuyên nghiệp).[9]

Điều oái ăm là bên cạnh hai từ “Ordo Praedicatorum” lại còn thêm từ “fratres”: biết nhét nó vào đâu: “Ordo fratrum praedicatorum” hay “fratres ordinis praedicatorum”?

Trong một văn tự ký với Đa Minh, ngày 11/9/1217, đức cha Foulques dùng danh từ fratres praedicationis. Từ ngữ fratres ordinis praedicatorum bắt đầu xuất hiện trong thư của đức giáo hoàng Hônôriô III giới thiệu Dòng với hàng giám mục thế giới (11/2/1218). Mặt khác, ngay từ đầu, các bản hiến pháp của Dòng đều mang tựa đề là Constitutiones ordinis fratrum praedicatorum. Thánh Tôma Aquinô cũng nghĩ như vậy (Summa Theologica, II-II, q.186, a.4, ad 1m).

Hiến pháp hiện tại (1968) mang tựa đề là “Liber Constitutionum et Ordinationum Ordinis Fratrum Praedicatorum”. Tổng hội 1971 đề nghị đổi thành “LCO fratrum Ordinis Praedicatorum” (Acta CG 1971 n. 43), nhưng liền bị tổng hội 1974 bác bỏ (simpliciter abrogamus: Acta CG 1974 n.147). Mới đây, tổng hội 1998 (có lẽ ít giám tỉnh rành Hiến pháp), đã ra tuyên cáo như sau (số 291): “Declaramus et ordinamus quod titulus… est Liber Constitutionum et Ordinationum Fratrum Ordinis Praedicatorum”. Chắc rồi tổng hội lần tới lại chỉnh lần nữa, ít là vì hai lý do: 1/ Hiến pháp nền tảng (§II) viết rằng “Ordo namque fratrum praedicatorum a s. Dominico fundatus”. Đã sửa tựa đề thì phải sửa cả ruột nữa chứ! 2/ Trên thực tế, thánh Đa Minh chỉ có lập Dòng Anh em Giảng thuyết (ordo fratrum praedicatorum), chứ không lập một OP lơ lửng để hậu thế tự tiện xen vào “sorores ordinis praedicatorum”!

II. Khẩu hiệu

Suốt nhiều thế kỷ, Dòng không có khẩu hiệu cũng chẳng có huy hiệu. Dần dần, vài anh em hay vài địa phương bắt chước thời trang (đua đòi các dòng khác) chọn một khẩu hiệu hay huy hiệu, và họ muốn cho Tổng hội phê chuẩn sáng kiến của mình. Đã có lúc Tổng hội xiêu lòng, định nhìn nhận một khẩu hiệu chính thức, nhưng liền bị anh em phản đối, lý do là vì đi ngược lại truyền thống của Dòng vốn đề cao “trăm hoa đua nở”. Chúng ta hãy điểm qua vài khẩu hiệu (hay châm ngôn) quen thuộc.

1. Cum Deo aut de Deo

Tông huấn Vita Consecrata (số 36) đã coi khẩu hiệu này như là đặc trưng của thánh Đa Minh: “nói với Chúa (cầu nguyện) và nói về Chúa (giảng thuyết)”. Đó cũng là tựa đề bài đọc giờ Kinh Sách trong ngày lễ kính thánh nhân (8/8). Nói cho đúng, khẩu hiệu này đã xuất hiện non một thế kỷ trước khi Dòng Giảng thuyết ra đời.[10] Cha Đa Minh đã lấy nó làm lẽ sống cho mình và truyền ghi vào Hiến pháp nguyên thủy.[11]

Thực vậy, trong Hiến pháp nguyên thủy chúng ta đã đọc thấy lời khuyên răn các anh em đi giảng như sau (Distinctio II, c.31: De praedicatoribus): “Qui recepta benedictione exeuntes ubique tamquam viri qui suam et aliorum salutem procurare desiderant honeste et religiose se habeant sicut viri evangelici sui sequentes vestigia Salvatoris cum Deo vel de Deo secum vel proximis loquendo vitabunt suspiciosi comitatus familiaritatem”. Điều này được lặp lại trong Hiến pháp nền tảng (§II).

2. Contemplare et contemplata aliis tradere

Đây là một câu văn trích từ sách Summa Theologica: “Ita maius est contemplata aliis tradere quam solum contemplari” (II-II, q.188, a.6; cf. q.182, a.1, ad 1m; III q.40, a.1, ad 2m). Thánh Tôma đang so sánh những lối sống tu trì khác nhau ở trong Hội thánh: đời chiêm niệm và đời tông đồ. Ngài nghĩ rằng người nào suy niệm và sau đó chia sẻ với tha nhân (đời tông đồ) thì tốt hơn là người chỉ suy niệm cho bản thân (đan tu). Khi viết những dòng đó, tác giả đang nghĩ đến ơn gọi của mình: đời sống tông đồ. Nên biết là thánh Tôma hiểu đời tông đồ (vita apostolica) theo nghĩa là bắt chước các thánh tông đồ (giảng dạy: docere et praedicare, một sứ mạng của hàng giám mục). Hiểu theo nghĩa này thì đời tông đồ cao quý hơn đời chiêm niệm; chứ các công tác bác ái phục vụ tha nhân không được xếp vào hạng “tông đồ”. Chúng ta phải cám ơn Chúa vì đã ban cho Dòng một lý thuyết gia: chúng ta sẽ thấy thánh Tôma đã nhiều lần giúp cho Dòng nhận định đặc sủng của mình. Đối lại, cũng có thể khẳng định rằng nhờ Dòng mà thánh Tôma “nên thân nên người”.[12] Nói khác đi, ngài sẽ không thể nào hoàn thành các tác phẩm của mình trong khung cảnh của Dòng Biển Đức, Xitô, Phanxicô được!

3. Laudare, benedicere, praedicare

Theo Legenda của Pedro Ferrando (chương 32), khi Dòng mới thành lập, đức cha Cônrađô (dòng Xitô) sứ thần Toà thánh, đến Bologna và được anh em tiếp rước nồng hậu. Nhưng đầu óc của ngài đầy những băn khoăn ngờ vực về tính chất của Dòng mới (không biết có phải được lập do ý Chúa hay chỉ do tính toán phàm trần). Khi đã an toạ ở phòng hội, ngài yêu cầu anh em đưa một quyển sách. Anh em mang đến một quyển Sách lễ. Ngài làm dấu thánh giá, mở sách ra và thấy ngay ở đầu trang có hàng chữ Laudare, Benedicere, Praedicare. Thế là bao nhiêu mối ngờ vực đều tan biến! Đức cha nhận ra rằng quả thật Dòng này được lập do ý Trời.

Có lẽ những dòng vừa kể được trích từ kinh Tiền tụng kính Đức Mẹ (“Et te in sollemnitate beatae Mariae semper Virginis collaudare, benedicere et praedicare”). Tự nó cả ba động từ đều mang nghĩa như nhau,[13] đó là: chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa. Nhưng đến khi chú giải Hiến pháp, cha Humbertus bắt đầu tách ra thành hai phận sự của các tu sĩ: “Laudare và Benedicere” ám chỉ sứ mạng chúc tụng Thiên Chúa qua việc nguyện Kinh Thần vụ; “Praedicare” ám chỉ sứ mạng rao giảng Lời Chúa (Expositio super Constitutiones II,71). Sang thế kỷ XVI, người ta lại tách ra thành ba vế khác biệt: “laudare” là ca tụng Thiên Chúa qua việc cầu nguyện; “benedicere” là ban ơn xá giải qua bí tích thống hối; “praedicare” là giảng Lời Chúa.

Tổng hội 1656 họp tại Rôma tuyên bố rằng khẩu hiệu chính thức của Dòng là Laudare benedicere praedicare. Điều này còn được tổng hội Bologna năm 1725 lặp lại. Nhưng hai Tổng hội đều áp dụng cả ba động từ vào công tác phụng vụ (officium chorale). Tuy nhiên từ thế kỷ XIX, vài tổng quyền (như Andreas Fruhwirth) hay tác giả (như P. Danzas) lại tách ra thành hai chiều khích chính của đời sống Đa Minh: chiều kích đan tu (monastica) biểu thị qua “laudare”; chiều kích tông đồ (apostolica), biểu thị qua giảng (praedicare) và giải (ban ơn xá giải: benedicere).

4. Veritas

Khẩu hiệu này được du nhập từ hậu bán thế kỷ XIX, có lẽ do ảnh hưởng của cha Henri Lacordaire (Mémoires pour le rétablíssement en France de l’Ordre des Frères Prêcheurs, Paris 1839). Trong quyển Hiến pháp in năm 1872, khẩu hiệu Veritas xuất hiện kèm theo huy hiệu của Dòng.

Như vậy khẩu hiệu này không có lịch sử lâu đời. Có lẽ nguồn gốc của nó là một lưu truyền từ Galvano Fiamma (+khoảng 1344), theo đó biệt hiệu Ordo veritatis do hoàng đế Ludovico Bavarese (1287-1347) đã tặng cho Dòng sau khi nghe biết tính khí khái của Dòng, dám cãi lại đức giáo hoàng. Nội vụ bắt nguồn từ một cuộc tranh luận về phúc kiến (visio beatifica). Dòng Phanxicô chủ trương rằng sau khi chết thì các người lành chỉ được chiêm ngưỡng nhân tính của Chúa Kitô, và họ phải chờ đến ngày tận thế (sau khi thân xác sống lại) thì họ mới được chiêm ngưỡng Chúa Ba Ngôi. Đức giáo hoàng Gioan XXII bênh vực thuyết này trong các bài giảng năm 1331. Dòng Đa Minh phản đối lập trường đó, và chủ trương rằng các người lành sẽ được hưởng kiến nhan Chúa liền ngay sau khi chết (Ngày nay nếu nhà thần học nào dám nói ngược Toà thánh thì ít nhất cũng sẽ bị “mất dạy”, nhưng mà ở thế kỷ XIV thì khác!). Dù sao trước khi qua đời, đức Gioan XXII đã rút lời và tuyên bố rằng mình chỉ trình bày ý kiến cá nhân chứ không phải với tư cách là giáo hoàng. Vị kế nhiệm là đức Bênêđictô XII đã chấp nhận chủ trương của Dòng Đa Minh và tuyên bố thành tín điều (Hiến chế Benedictus Deus, ngày 29/1/1336; xem Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 1023). Hoàng đế Luđôvicô Bavarese cảm phục Dòng Đa Minh thực là Dòng của chân lý bởi vì dám bênh vực sự thực hơn là chiều theo giáo hoàng; và nếu Dòng dám cãi lệnh vua khi cũng chẳng lạ![14]

Tuy nhiên, cũng nên thêm rằng thánh Tôma Aquinô đã nhiều lần nói đến Thiên Chúa như là Chân lý Đệ nhất (Veritas Prima), đối thể của đức tin và suy tư thần học (Summa Theologica, II-II, q.1, a.1). Nên biết là hai bộ tổng luận của thánh Tôma đều mở đầu với sứ mạng của nhà thần học như là “thầy dạy chân lý” (catholicae veritatis doctor: Summa Theologica), và nghiền ngẫm chân lý (Summa contra Gentiles mở đầu với câu trích từ sách Châm Ngôn 8,7: Veritatem meditabitur guttur meum, et labia mea detestabuntur impium).[15]

Qua các khẩu hiệu (hay châm ngôn) kể trên, ta có thể ghi nhận hai điều: 1/ Nguồn gốc của nó không hẳn là của riêng Dòng; nhưng nó đã được du nhập và biến chế (nhờ tài của các thuyết gia cỡ bự như thánh Tôma). 2/ Dòng có nhiều châm ngôn, nhưng không áp đặt một châm ngôn chính thức: tinh thần tự do của con cái Chúa mà! Ai ưa thích việc nghiên cứu học hành thì chọn khẩu hiệu số 4; ai chuộng đời sống phụng vụ thì lấy khẩu hiệu số 3; ai chú ý đến sứ vụ rao giảng thì trích hai khẩu hiệu đầu. Tính chất “dân chủ đa nguyên” của Dòng còn được biểu lộ khi phải chọn huy hiệu.

 

III. Huy hiệu

Có hai huy hiệu chính, được đặt tên là stemma liliatum và stemma cappatum. Bên Việt Nam, có lẽ huy hiệu quen thuộc là “liliatum”: thánh giá mang hình hoa huệ ở chóp, gắn trên nền chữ X xen kẽ màu trắng với màu đen. Đó là huy hiệu mà anh chị Dòng Ba thường đeo (và được chụp lại ở trang đầu của tờ Bản tin Đa Minh, giống như trước đây trên bìa của những sách do nhà xuất bản Chân lý phát hành). Huy hiệu thứ hai đơn giản hơn (thường xuất hiện trên các công văn của tỉnh dòng hoặc trên cổng các tu viện): nền đen với vạt áo màu trắng đàng trước (hay nói ngược lại cũng vậy: áo trắng được che bởi cappa màu đen).





Xét về lịch sử thì stemma cappatum ra đời trước (thế kỷ XV), và thịnh hành ở Italia. Như đã nói, gọi là “cappatum” bởi vì giống như áo choàng cappa. Huy hiệu này ra đời đồng thời với huy hiệu của dòng Carmêlô, và có phần giống nhau (trừ màu sắc: trắng đen – nâu trắng). Không biết ai bắt chước ai?



Còn stemma liliatum xuất xứ từ Tây Ban Nha (khởi điểm của các vị thừa sai tỉnh dòng Mân côi) khoảng thế kỷ XVI.[16] Nổi bật là thánh giá (viền vàng) được trang điểm với hoa huệ ở bốn chóp, một biểu hiệu cũng gặp thấy ở nhiều dòng khác. Vì thế để phân biệt, thánh giá được gắn lên trên nền mang hai màu của áo Dòng Đa Minh: trắng đen.

Dòng để mặc cho anh em sử dụng huy hiệu nào tùy thích chứ không bó buộc. Mãi đến thế kỷ XX, tổng hội 1961 (Bologna) mới nhận huy hiệu “cappatum” là chính thức (Declaratio, n.302); nhưng tổng hội kế tiếp 1962 (Toulouse) đã hoãn lại để nghiên cứu thêm (Commissio, n.130). Tổng hội 1965 (Bogota) cho phép sử dụng cả hai (Declaratio n.247). Một lần nữa, tinh thần đa nguyên đã thắng!

Các họa sĩ còn tô điểm thêm nhiều chi tiết trên mỗi huy hiệu (thí dụ con chó ngậm bó đuốc) hay quàng thêm các khẩu hiệu (“Veritas” hoặc “Laudare, Benedicere, Praedicare”), hoặc ghép thêm triều thiên, cành hoa huệ bắt chéo với cành thiên tuế (trinh khiết và tử đạo)… Một biểu hiệu thường gặp trên huy hiệu là ngôi sao. Nói đúng ra, ngôi sao là biểu tượng của thánh Đa Minh chứ không phải của Dòng Giảng thuyết. Theo Legenda của Pedro Ferrando (cap.3), sau khi đã mang bé Đa Minh rửa tội, bà vú đỡ đầu được Chúa cho thấy trong giấc mơ một ngôi sao hiện ra trên trán của em. Dĩ nhiên đây là điềm báo về tương lai của Đa Minh sẽ chiếu sáng thế giới.[17] Không biết câu chuyện thực hư thế nào. Riêng chị Cêcilia tả lại rằng trên vầng trán của cha Đa Minh có một luồng sáng toả ra và thu hút sự ái mộ và kính trọng của nhiều người (n.15). Từ đó, các bức họa chân dung thánh Đa Minh đều mang một ngôi sao trên trán; và có lẽ đó cũng là nguồn cảm hứng cho bài ca “O lumen Ecclesiae!”

Dù sao, khi nhìn vào huy hiệu của Dòng, ngoài các biểu tượng, điều đập vào mắt chúng ta hơn cả là hai màu trắng đen, màu của áo dòng. Hai màu này có ý nghĩa gì? Chúng ta sẽ tìm hiểu trong bài tới khi nghiên cứu về lịch sử áo dòng.

 

Lm. Giuse Phan Tấn Thành OP.

 

[3] Có ý kiến giải thích “dominicus” là một tính từ (hình dung từ: adjectif), có nghĩa la: “thuộc về Chúa”; thí dụ “dies dominica”: ngày của Chúa.

[4] P. Mandonnet, “Note de symbolique médiévale: Domini canes”, trong sách S. Dominique, l’idée, l’homme, l’oeuvre, tập II, Paris 1938, p.39-61.

[5] H. Vicaire, La Bulle de confirmation des Prêcheurs, in: “Revue d’histoire ecclesiastique” 1952, p.180-192.

[6] Kẻ thương thì đọc “Ordre des Prêcheurs”; người ghét thì đọc trại ra “Ordre des Pêcheurs” (ngư dân) hay “Ordre des Pécheurs” (hối nhân).

[7] Cap. X: De praedicatoribus instituendis: “praecipimus… viros idoneos ordinari, quos episcopi possint coadiutores et cooperatores habere non solum in praedicationis officio, verum etiam in audiendis confessionibus et poenitentiiis iniungendis ac ceteris quae ad salutem pertinent animarum”. Xc. V. Koudelka, Monumenta diplomatica S. Dominici, Roma 1966, n.67.

[8]“Notum sit omnibus presentibus et futuris quod nos Fulco, Dei gratia Tolosanae sedis minister humilis, ad extirpandam hereticam pravitatem et vitia expellenda et fidei regulam edocendam et homines sanis morbius imbuenduos, instituimus predicatores in episcopatu nostro fratrem Dominicum et socios eius, qui in paupertate evangelica pedites religiose proposuserunt incedere et veritatis evangelicae verbum praedicare”. Xem: Monumenta diplomatica S. Dominici n.63.

[9] V. Koudelka, Notes sur le cartulaire de Saint Dominique, in: “Archivum Fratrum Praedicatorum” 28 (1958), p.92-100.

[10] Thánh Stephano de Muret (+1124), sáng lập dòng Grandmont, đã viết: “Bonus homo debet semper loqui cum Deo vel de Deo; nam in oratione sua cum Deo, cum proximo loquitur de Deo”. Liber de doctrina XXX, §2,21: PL 204, 1102B.

[11] Điều này được lặp đi lặp lại trong Hồ sơ Phong thánh. Xem chứng tích của Ioannes Hispanus; Rodolphus Faventinus; Stephanus Hispanus; Paulus Venetus; Frugierus Pennensis.

[12] J.P. Torrell, Saint Thomas d’Aquin, maitre spirituel, Fribourg 1996, p.508-511 (L’héritage dominicain).

[13] Cũng kiểu như: “Nửa đêm giờ tí canh ba, vợ tôi phận gái đàn bà nữ nhi”. Laudare: khen ngợi; bene-dicere: nói tốt (nói hay) về người nào; praedicare (prae- dicere): nói trước mặt ai, nói trước công chúng. Sách Lễ tiếng Việt dịch kinh Tiền tụng đức Trinh Nữ Maria như sau: “Trong ngày lễ… chúng con cùng ca ngợi, chúc tụng, tung hô Chúa”.

[14] Theo lời kể lại của sử gia Bzovius O.P. (+1637): “Ordo Praedicatorum est Ordo veritatis quia errantem pontificem dereliquit, video nunc quod si contra me sunt, hoc est quia amant veritatem. A cuique Praedicatori quilibet amicus ét sed magis amica veritas; nec alia de Fridericum Imperator experientia convictus Ordinem Praedicatorum quamvis ei foret infensus, ordinem veritatis appellavit”.

[15] Veritas có thể dịch ra tiếng Việt là “chân lý” hay “sự thật”. Tuy ý nghĩa như nhau, nhưng xem ra “chân lý” nghe bùi tai hơn! Trong tiếng Nga, cũng có hai từ: “Pravda” và “Istina”; các cha Đa Minh chọn từ thứ hai! Anh chị em có biết tại sao không?

[16] V. Beltran de Heredia, Origen y desenvolvimiento del “Stemma liliatum” en las provincias dominicanas de Espana e hispanoamerica, in: “Archivum Fratrum Praedicatorum” 35 (1965), 67-84.

[17] Theo cha H. Vicaire, phải hiểu đó là “sao hôm” (vesperus) được sai đến để dọn đường cho Chúa quang lâm, đối lại với sứ mạng của thánh Gioan Tiền hô, được ví với “sao mai” (stella matutina) loan báo Chúa ra đời (Nên nhớ là tục truyền cho rằng cha Đa Minh chào đời vào ngày 24/6). Về sau, người ta bỏ qua chi tiết cánh chung, và chỉ nhắc tới sứ mạng rao giảng ánh sáng Tin mừng. Xc. Vesperus (l’étoile du soir) ou l’image de saint Dominique pour ses frères au XIII siecle in: ID. Dominique et ses prêcheurs, Fribourg 1977, p.280-304.