Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH MÂN CÔI - THAM KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH MÂN CÔI - THAM KHẢO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

CHUYÊN MỤC HIỂU ĐỂ YÊU - TẠI SAO PHẢI LẦN HẠT MÂN CÔI

 

TẠI SAO PHẢI LẦN HẠT MÂN CÔI?

Chào mừng bạn đã đến với chuyên mục “Hiểu để yêu”. Bạn rất thân mến, Tháng 10 là Tháng Mân Côi, Giáo hội đã đặt để cho Tháng 10 một ý nghĩa thật tuyệt vời phải không bạn? Với ý nghĩa đó, xin mời bạn cùng tôi, chúng ta cùng nhau tìm hiểu xem

1.             Kinh Mân Côi là gì?

2.             Tại sao phải lần hạt Mân Côi?

3.        Chúng ta thực hiện việc lần hạt Mân côi ra sao?

 

Còn chần chờ gì nữa, chúng ta cùng đến với phần thứ nhất.

1.Đầu tiên, chúng ta cùng tìm hiểu xem, Kinh Mân Côi là gì nhỉ?

-Kinh Mân côi có thể gọi là Mai Khôi, Môi Khôi, Mân Côi hay Văn Côi v.v… (Mai hoặc Mân hay Môi: nghĩa là hoa hồng, bông hường; Côi hay Khôi: có nghĩa là đá quý).

 

-Chuỗi Mân Côi là chuỗi bông hồng, được tượng trưng bằng 5 chục hạt, mỗi hạt là một kinh Kính Mừng, như những bông hồng kết thành vòng hoa dâng kính Đức Mẹ Maria. Với 150 kinh Kính Mừng là như 150 bông hồng hay 150 thánh vịnh. Vì chuỗi Mân Côi được các tín hữu thời Trung Cổ đọc và coi như tập thánh vịnh về Đức Mẹ, cũng giống như 150 Thánh Vịnh của David trong Kinh Thánh, Giáo Hội đã từng dùng để tạ ơn, chúc tụng và ngợi khen Chúa.

 

-Ngày nay, chuỗi hạt Mân Côi tập trung về tượng chịu nạn, và thế là thánh giá mở đầu và kết thúc chuỗi kinh nguyện của người tín hữu tập trung vào Đức Kitô. Mọi sự đều quy hướng về Người, chính nhờ Người, với Người và mọi sự qua Người, mà mọi danh dự và vinh quang đều qui về Chúa là Cha toàn năng, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần.

 

-Ngoài ra, chuỗi hạt Mân Côi còn là một dụng cụ để đếm, cho biết kinh nguyện đang tiến tới chỗ nào, tràng hạt cho thấy con đường liên tục của việc chiêm niệm và của sự hoàn thiện Kitô giáo.

 

Chân phước Batolo Longo đã ví von chuỗi tràng hạt như một “sợi dây xích” ngọt ngào và đầy tình nghĩa tử vì nối kết chúng ta với Thiên Chúa là Cha đầy tình yêu thương, giúp chúng ta hòa nhịp cùng Đức Maria, người “nữ tỳ của Đức Chúa” (Lc 1, 38) cũng như giúp chúng ta nên giống chính Đức Giêsu Kitô, Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã trở thành “người tôi tớ” vì yêu mến chúng ta (Pl 2, 7).

Tràng hạt còn là những mối tương quan, mối dây hiệp thông và tình huynh đệ liên kết tất cả chúng ta trong Đức Kitô.  

2.Tiếp theo, chúng ta cùng tìm hiểu tại sao phải lần hạt Mân Côi?

Chúng ta cần phải lần hạt Kinh Mân Côi vì với cuộc cách mạng 4.0 nổ ra trên khắp toàn cầu, mọi người kết nối với nhau thông qua internet, ai ai cũng có điện thoại thông minh, máy tính, smarphone; đâu đâu cũng có 4G; nhà nhà cũng đều có Wifi giúp con người được cung cấp rất nhiều thông tin về mọi lãnh vực cũng như mở rộng mối quan hệ rộng lớn trên khắp thế giới. Vậy thì, Kinh Mân Côi cũng chính là lời kinh kết nối, giúp chúng ta kết nối với Đức Trinh Nữ Maria, với anh cả Giêsu và kết nối chúng ta với nhau, mở rộng mối quan hệ khăng khít.

a. Chúng ta cùng kết nối với Đức Maria nhé:

-Khi lần chuỗi đọc Kinh Kính Mừng, chúng ta được nối kết với Đức Maria và mối quan hệ của chúng ta với Mẹ Maria như tình mẫu tử qua biến cố sứ thần Gabriel truyền tin và lời thưa xin vâng của Đức Maria: “Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Chứng tỏ một điều rất rõ ràng rằng: Mẹ được tràn đầy ân sủng và Mẹ luôn luôn có Thiên Chúa ở cùng. Nên vì thế mà:

·      Không có giây phút nào mà Mẹ không có Thiên Chúa với mình.

·      Không có giây phút nào mà Mẹ không trọn vẹn thuộc về Chúa.

·      Không có bất cứ dấu vết tội lỗi chen vào giữa Mẹ và Thiên Chúa.

-Là một tâm hồn luôn luôn nghiền ngẫm Kinh thánh, chắc hẳn Đức Maria luôn suy đi ngẫm nhớ lại Lời Chúa.

-Đọc Kinh Mân Côi là kết nối hai chiều đi đi về về giữa Đức Maria xuống với con người và giữa con người lên với Đức Maria, cách tự nhiên như tình mẫu tử như chính tình mẫu tử của Mẹ và anh cả Giêsu.

b. Tiếp theo, chúng ta cùng kết nối với Chúa Giêsu:

-Khi lần chuỗi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta được nối kết với Chúa Giêsu.

-Điều huyền diệu làm cho chuỗi Mân Côi hữu hiệu là khi đọc, chúng ta vừa cầu nguyện vừa suy niệm. Kinh Lạy Cha dâng lên Chúa Cha, Kinh Kính Mừng dâng lên Đức Maria và Kinh Sáng Danh dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi.

àNhững tâm tình suy niệm ấy, là một bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế, tất cả đều hướng về Chúa Giêsu Kitô qua các mầu nhiệm của Phúc Âm.

-Chuỗi Mân Côi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu tiên cho đến những phút giây cuối cùng.

Vì thế, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói “Kinh Mân Côi không thay thế việc đọc Kinh Thánh, Lectio Divina; trái lại, Kinh Mân Côi giả định trước và cổ võ việc đọc Kinh Thánh. Trong Kinh Mân Côi, chúng ta cầu xin Mẹ giúp chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu mỗi ngày một hơn. Khi suy ngẫm về Kinh Mân Côi, chúng ta bước vào trường học của Đức Maria để Mẹ dạy chúng ta về Chúa Giêsu vì Mẹ đã nuôi dưỡng Chúa Giêsu, đồng hành với Chúa Giêsu và cùng chịu khổ với Chúa Giêsu dưới cây thánh giá”.

Các mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương, Mừng, hòa quyện trong cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu. Chuỗi Mân Côi lần lượt diễn tả:

– Mầu nhiệm Vui: nhịp bước với sự kiện Thiên thần truyền tin, Đức Mẹ đi thăm viếng bà Elisabeth, mầu nhiệm Nhập thể, Đức Mẹ dâng Đức Chúa Giêsu cũng như tìm được Chúa khi thất lạc.

– Mầu nhiệm Sáng: nhịp bước với các sứ vụ công khai của Chúa Giêsu như là Ngài chịu phép rửa, Ngài dự tiệc cưới Cana, Ngài rao giảng Tin Mừng, Ngài biến hình trên núi Tarbo và Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể.

– Mầu nhiệm Thương: nhịp bước với những nỗi khổ đau trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Mừng: nhịp bước với vinh quang Phục sinh của Đức Kitô.

Chuỗi Mân Côi là quà tặng quí giá mà Thiên Chúa và Đức Mẹ trao cho chúng ta.

Người ta gọi chuỗi Mân Côi là kinh nguyện của người bình dân vì chính các mầu nhiệm của kinh Mân Côi được gọi là cuốn sách Phúc Âm rút gọn của người bình dân vì cứ 10 Kinh Kính mừng lại suy gẫm về một mầu nhiệm mùa Vui, Sáng, Thương, Mừng.

c. Sau cùng, Kinh mân Côi kết nối với mọi người với nhau

-Thật vậy, khi đọc kinh Mân Côi mỗi người chúng ta được kết nối với Đức Maria và với Đức Kitô, từ đó được hiệp thông với mọi tín hữu.

-Kinh Mân Côi là lời kinh phổ cập, đó là kinh của mọi tín hữu. Ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người ít học, người giàu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi.

-Kinh Mân Côi có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người Công Giáo họp nhau lại.

-Đọc Kinh Mân Côi với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Giáo Hội công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc tóm tắt lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế.

-Cầu nguyện với Đức Mẹ bằng lời kinh Mân Côi, chúng ta được kết nối với Chúa Giêsu là nguồn mạch ban sự sống.

·      Bóng đèn muốn được toả sáng thì phải được nối kết với nguồn điện.

·      Cành nho muốn được trổ sinh hoa trái thì phải được tháp nhập vào thân nho.

·      Bàn tay muốn sống còn và hoạt động thì phải liên kết với cơ thể.

·      Con người muốn được sống dồi dào và vĩnh cửu thì phải nối kết với cội nguồn là Chúa Giêsu.

-Chuỗi Mân Côi mang đến sự tuyệt vời cho con người.

·      Ai yếu đuối, Kinh Mân Côi đem lại sức mạnh;

·      ai tội lỗi, Kinh Mân Côi dắt về ơn thánh;

·      ai bất hạnh, Kinh Mân Côi giúp bình tĩnh tìm ra hướng lối vươn lên;

·      ai khô khan, Kinh Mân Côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn còn ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh.

-Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối mỗi người với Chúa Giêsu, với Mẹ Maria và với nhau. Đó là kinh nguyện phổ biến, vừa dễ đọc vừa dễ cầu nguyện mà lại mang lại nhiều ích lợi cho linh hồn.

3. Sau cùng, chúng ta đáp lại lời mời gọi lần hạt Mân côi ra sao?

Chúng ta đáp lại lời mời gọi lần hạt Kinh Mân Côi theo lời nhắn nhủ của Mẹ Maria trong lần hiện ra lần cuối cùng tại Fatima đó là “hãy siêng năng lần hạt Mân Côi”. Với lời kêu mời khẩn thiết ấy đã lôi kéo con người tới trọng tâm của Tin Mừng, Mẹ Fatima là Mẹ Mân Côi. Mân Côi chính là hoa hồng, là bông hồng đẹp, viên ngọc quí. Bằng chuỗi Mân Côi, Hội Thánh trở thành một vườn hồng mênh mông, hương thơm sắc đẹp, dâng lên Mẹ hiền. Bằng cuộc sống hàng ngày, mỗi Kitô Hữu kết dệt nên những bông hoa thiêng liêng dâng kính Mẹ. Với ơn Mẹ, cuộc sống mọi người sẽ toả hương khoe sắc nhân đức và mang đến cho đời hòa bình và bình an.

Chuyên mục “Hiểu để yêu” ngày hôm nay đến đây xin kết thúc, xin mời bạn cùng với tôi chúng ta bước vào cuộc sống hằng ngày bằng việc siêng năng lần chuỗi Mân Côi bạn nhé! Chúc bạn luôn có Chúa ở cùng như Mẹ Maria cũng tràn đầy ân sủng Chúa.

 

TÊRÊSA KIỀU DIỄM - TVT

Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2024

Ý NGHĨA CHUỖI HẠT KINH MÂN CÔI

 

Ý NGHĨA CHUỖI HẠT KINH MÂN CÔI

 


1.  Nguồn gốc xa xưa

Mân Côi có nghĩa là bông hồng. Chuỗi Mân Côi là chuỗi bông hồng, được tượng trưng bằng 5 chục hạt, mỗi hạt là như một kinh Kính Mừng, được coi như những bông hồng kết thành vòng hoa dâng kính Mẹ. 150 kinh Kính Mừng là như 150 bông hồng hay 150 thánh vịnh. Vì chuỗi Mân Côi được các tín hữu thời Trung Cổ đọc và coi như tập thánh vịnh về Đức Mẹ, cũng giống như 150 Thánh Vịnh trong Kinh Thánh, Giáo Hội dùng để chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa.

Nói như thế không có nghĩa là kinh Mân Côi chỉ có 15 mầu nhiệm. Nhưng vì trong số những mầu nhiệm liên quan đến cuộc đời của đức Kitô, kinh Mân Côi chỉ nêu lên một số những khoảnh khắc chính yếu, được tượng trưng bằng một tràng chuỗi Mân Côi gồm 15 mầu nhiệm, theo hình thức đã trở thành phổ biến, và được Hội Thánh chuẩn nhận. Việc chọn lựa như thế là do nguồn gốc của kinh này xây dựng trên con số 150, con số các thánh vịnh trong tập thánh vịnh như ta nói ở trên.

2.  Ý nghĩa hôm nay

Cho đến hôm nay, chuỗi hạt vẫn là một phương tiện truyền thống giúp đọc kinh Mân Côi. Lúc đầu được coi như một dụng cụ thuần túy để đếm số kinh Kính Mừng. Tuy nhiên, tràng hạt còn có tính cách biểu tượng, có thể đem lại ý nghĩa sâu xa cho kinh nguyện.

Trước hết cần lưu ý rằng, tràng hạt tập trung về tượng chuộc tội, và như thế, thánh giá mở đầu và kết thúc chuỗi kinh nguyện của người tín hữu tập trung vào đức Kitô. Mọi sự đều quy hướng về Người, và mọi sự qua Người, trong Chúa Thánh Thần đạt tới Chúa Cha.

 

Là một dụng cụ để đếm, cho biết kinh nguyện đang tiến tới chỗ nào, tràng hạt cho thấy con đường liên tục của việc chiêm niệm và của sự hoàn thiện Kitô giáo. Chân phước Batolo Longo đã coi tràng hạt như một “sợi dây xích” ngọt ngào, bởi vì nó nối kết chúng ta với Thiên Chúa là Cha đầy tình yêu thương. Một sợi dây xích “đầy tình nghĩa tử”, giúp chúng ta hòa nhịp cùng Đức Maria, người “nữ tỳ của Đức Chúa” (Lc 1, 38), và nhất là giúp chúng ta nên giống chính đức Giêsu Kitô, Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã trở thành “người tôi tớ” vì yêu mến chúng ta (Pl 2, 7).

Tràng hạt còn nhắc nhớ bao mối tương quan của chúng ta, nhớ đến mối dây hiệp thông  tình huynh đệ, liên kết tất cả chúng ta trong Đức Kitô (Tông thư Kinh Mân Côi của Đức Trinh nữ Maria [Rosarium Virginis Mariae – RVM], số 36).

Nguồn: https://mancoichihoa.com

 

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2024

TẠI SAO LẦN HẠT MÂN CÔI?

 

TẠI SAO LẦN HẠT MÂN CÔI?

Nguồn: https://www.conggiao.org/tai-sao-lan-hat-man-coi/

Trong giây phút thanh vắng này, bên chân Mẹ đây, chúng ta cùng nhau tìm lại những lý do: “Tại sao tôi phải lần hạt Mân côi”, để rồi xác tín và sống trọn vẹn với chuỗi Mân côi hơn.

Trước hết: lần hạt Mân côi là một mệnh lệnh.
Theo dòng lịch sử, chuỗi Mân côi đã được các cha dòng Đa Minh truyền bá từ thế kỷ 15, nhất là sau khi, nhờ Tràng chuỗi Mân côi, mà hạm đội Công giáo đã chiến thắng quân Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ ở vịnh Lépanté, ngày 7-10-1571.

Và để khẳng định Hồng ân tuyệt vời của chuỗi Mân côi, chính Mẹ Maria đã hiện ra tại Fatima vào năm 1917 và công bố: “Các con hãy siêng năng lần hạt Mân Côi”.

Đó là mệnh lệnh Fatima.

Và suốt trong dòng lịch sử Giáo Hội, tất cả các Đức Giáo Hoàng đều nhắc nhở, khuyên bảo, truyền dạy mọi Kitô hữu phải sống với tràng hạt Mân Côi.

Đức Giáo Hoàng Pio X đã nói: “Nếu chúng con muốn gia đình bình an, hoà thuận thì hãy đọc kinh Mân Côi”.

Đức Giáo hoàng Pio XI lại khuyên: “Ta khuyến khích các bậc cha mẹ hãy ghi sâu vào tâm trí con cái mình thói quen lần hạt” và Ngài còn xác quyết: “chính ta không bỏ ngày nào mà không lần chuỗi”.

Còn Đức Giáo Hoàng Pio XII thì dạy: “Cảnh tượng nào êm dịu và đẹp lòng Chúa cho bằng cảnh tượng gia đình mỗi khi chiều buông, vang dội lên những lời kinh ca ngợi Nữ Vương Mân Côi, Nữ Vương Trời đất uy quyền”, Ngài còn nói thêm: “Bao giờ Giáo Hoàng ta chưa lần hạt Mân Côi, thì một ngày của ta chưa chấm dứt”.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II thì nói: “Kinh Mân Côi là lời cầu nguyện mà tôi thích nhất, đó là lời kinh tuyệt vời. Tuyệt vời trong sự đon giản và sâu sắc. Với lời kinh này chúng ta lặp lai nhiều lần những lời mà Đức Trinh nữ đã nghe Tổng lãnh Thiên Thần và người chị họ Elizabeth nói với Ngài”.

Chính Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II đã lập ra 1 “năm Mân côi”, năm 2003, để nhắc nhở, cỗ vũ tín hữu trên toàn Thế giới hãy siêng năng lần hạt Mân côi trong cuộc sống của mình. Vì theo Ngài: “ kinh Mân côi sẽ tán trợ việc thánh hoá các linh hồn”. Ngài cũng đặc biệt mời gọi và khẳng định với chúng ta: “các con hãy siêng năng lần hạt Mân côi, vì càng sống các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Kitô, cùng với Mẹ Maria, càng làm cho chúng ta gần Đức Kitô hơn”.

Thứ hai: Kinh Mân Côi là lời kinh tuyệt vời.
Tất cả mọi người -ai cũng công nhận- kinh Mân Côi tuy rất đơn sơ, mộc mạc nhưng lại vô cùng thâm uyên và sâu sắc, vì đó là lời kinh do chính Thiên Chúa, các sứ thần và Mẹ Maria lập nên. Kinh Mân côi – gồm có kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng, kinh Sáng Danh – là lời cầu nguyện rất có thế giá trước mặt Chúa, vì miệng đọc, tay lần hạt, trí lòng suy gẫm các biến cố trong cuộc đời tại thế của Đức Giêsu và Mẹ Ngài. Một cuộc đời với 5 niềm vui nho nhỏ, âm thầm, đi trước 5 biến cố đau thương tột đỉnh, và vinh quang mừng vui cũng chỉ đến sau Núi Sọ. Tràng chuỗi Mân côi càng thêm phong phú huyền nhiệm khi được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gắn thêm 5 bông hồng mầu nhiệm sự sáng. Năm mầu nhiệm này giúp chúng ta đào sâu lòng tin vào Đấng Cứu độ nhân loai, từ những ngày đầu chịu phép rửa ở sông Giócđan, đến biến nước thành rượu ngon ỏ tiệc cưới Cana, sau đó đi rao giảng Tin Mừng và sự sám hối, rồi biền hình trên núi Tabo, cuối cùng là lập ra bí tích Thánh Thể để ở lại với chúng ta.

Kinh Mân côi quả là gia tài Thánh của chúng ta. Chúng ta có thể đọc ở đâu cũng được, lúc nào cũng được và bất cứ ai cũng đọc được.

Thứ ba: Kinh Mân Côi là một Hồng ân cao cả.
Hồng ân Chúa, qua tay Mẹ, đã tuôn xuống dồi dào cho những ai biết siêng năng lần hạt Mân côi: ơn phần hồn, ơn phần xác. Có biết bao điều phi thường đã được Mẹ Mân côi cứu giúp, thực hiện nơi con cái Mẹ.

Chắc hẳn chúng ta còn nhớ. Vào lúc 5h chiều thứ tư, ngày 13-5-1981 tại Quảng trường Thánh Phêrô ở Roma, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã bị tên sát nhân, Thỗ Nhĩ Kỳ, tên Ali Agca, đứng cách Ngài khoảng 20 bước chân, đã dùng súng máy tự động ám sát Ngài. Nhưng lạ thay, viên đạn xuyên qua bụng mà không vào bất kỳ một cơ quan quan trọng nào, nó chỉ sém bên động mạch chủ ở bụng, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thoát chết.

Sau đó Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tin tưởng mãnh liệt đó là phép lạ của Mẹ Maria ban cho Ngài, vì Ngài luôn luôn lần hạt Mân côi. Ngài nói: “ một người nổ súng, và một người khác dẫn đường đi của viên đạn”. Ngài đã đem viên đạn xuyên qua bụng Ngài, gắn vào chiếc Vương miện bằng vàng, và đem đội lên đầu bức tượng Mẹ ở đền Fatima, để tôn vinh Mẹ.

Một ơn lạ khác mà Cha Albert Pfleger kể rằng:

Tại khu vực ngoại ô ở Tokyo- Nhật bản, có 1 khu tế bần, gần cả ngàn người già cô độc, không gia cư, không con cái sống ở đó. Một đêm nọ, khoảng 2 giờ sáng, điện thoại phòng Ngài reo vang. Nguời ta báo có một cụ già đang hấp hối, xin được gặp Linh mục Công giáo. Cha đến nơi và biết rằng: lúc còn trẻ, bà ta vào học tại một trường Công giáo trong 3 năm. Và năm 17 tuổi bà trở lại đạo, đã được rửa tội và rước lễ. Nhưng sau đó, do sự ép buộc của gia đình bà phải lấy chồng; chồng bà là 1 nhà sư Phật giáo, trụ trì một ngôi Chùa tại một vùng núi xa xôi. Ở đấy bà có 8 người con, nhưng rồi những đứa con của bà cũng lần lượt qua đời. Cách đây 10 năm, chồng bà cũng qua đời. Thế là có một nhà sư khác đến thay thế,bà phải rời khỏi Chùa và sống vô gia cư, không nơi nương tựa.

Cha Albert hỏi bà: “Trong suốt những năm tháng qua,bà có nhớ đến Chúa không?” bà nhìn Cha và khó nhọc đưa cánh tay phải lần vào thắt lưng và rút ra 1 trang chuỗi Mân côi cũ kỷ và nói: “ Trong suốt những năm tháng qua, không có ngày nào là con không lần chuỗi, có ngày nhiều lần. Con lần chuỗi lúc rãnh rỗi, cả khi làm việc. Con luôn luôn có tràng chuỗi trong tay hay trong túi, và con cũng luôn cầu xin cùng Mẹ là trước khi con chết, cho con được 1 lần gặp 1 Linh mục Công giáo, để con xưng tội và rước lễ. Hôm nay Mẹ đã nhậm lời con”.

Ôi biết bao Hồng ân, phần hồn, phần xác, mà Mẹ đã ban cho những ai siêng năng lần chuỗi Mân côi. Chúng ta không sao kể hêt được.

Giờ đây, mọi người chúng ta hãy sốt sắng dâng lên Mẹ tràng chuỗi Mân côi với suy niệm 5 sự Mừng, để xin Mẹ ban mọi ơn lành hồn xác cho chúng ta, và đưa nhiều người đến với Chúa qua tay Mẹ.

 

KINH MÂN CÔI, LỜI KINH GẦN GŨI

KINH MÂN CÔI, LỜI KINH GẦN GŨI

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Một người đàn ông chạy xe ôm, đang khi ngồi chờ khách, anh cầm tràng chuỗi trên tay để lần hạt. Người đi đường chụp tấm hình đưa lên mạng xã hội. Thi sĩ nhìn hình, cảm hứng làm thơ. Nhạc sĩ cảm hứng từ thơ nên viết nhạc, ca sĩ hát và đưa lên youtube.

Nghe ca khúc “Sao anh siêng lần chuỗi” với giai điệu tăng-gô vui tươi, gợi lên nhưng suy niệm về Chuỗi Mân Côi.

1. Lần hạt bất cứ khi nào và ở đâu

Không buộc phải đọc 50 Kinh Mân Côi một lần mà có thể đọc bao nhiêu tuỳ vào thời gian mình có. Có thể vừa làm việc vừa đọc Kinh Mân Côi, không nhất thiết phải có tràng hạt trên tay. Có thể thì thầm bất cứ lúc nào: khi chờ xe bên đường, lúc đi học, khi giải trí, khi đau bệnh…thay vì đưa mắt nhìn chung quanh, thay vì nghe những chuyện không đâu, mình cũng có thể lần hạt. Dù bận bịu đến đâu mình cũng có thể lần hạt. Đó là cách cầu nguyện mà triết gia Jacques Maritain gọi là “chiêm niệm bên vệ đường”. Kinh Mân Côi chính là người bạn chân tình, dễ tính, trung thành luôn sẵn sàng hiện diện mọi lúc, mọi nơi.

Kinh Mân Côi chính là hành trang gọn nhẹ giúp thánh hóa bản thân gia đình và xã hội. Theo nghĩa này, Kinh Mân Côi không khác gì điện thoại di động hòa đời mình vào mạng sự sống thiêng liêng.

2. Lời kinh kết nối

Ai cũng có điện thoại, xài wifi, 4G. Đi đâu cùng có kết nối. Thời đại hôm nay, mạng internet được gọi là xa lộ thông tin cung cấp rất nhiều thông tin về mọi lãnh vực, cho con người mối quan hệ rộng lớn và nhiều cơ hội diễn đạt cảm xúc và suy nghĩ của mình. Hòa vào mạng internet, con người trên khắp thế giới được kết nối với nhau. Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối.

a. Kết nối với Đức Maria

Khi lần chuỗi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta được nối kết với Đức Maria. Chiêm ngắm Mẹ chỉ là “Nữ tỳ hèn mọn”, nhưng “Chúa đã đoái thương nhìn tới”. Vì thế, “Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”. Một thiếu nữ nhỏ bé sống ở làng quê nghèo Nadaret đã trở thành Mẹ Thiên Chúa. Sứ thần Gabriel đến Nadaret chào thôn nữ Maria: “Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Ba tiếng “Đầy-ân-sủng” gộp lại trở thành như là tên gọi riêng của Đức Maria. Mẹ được tràn đầy ân sủng. Mẹ luôn luôn có Thiên Chúa ở cùng. Không có giây phút nào mà Mẹ không có Thiên Chúa với mình. Không có giây phút nào mà Mẹ không trọn vẹn thuộc về Chúa. Không có bất cứ dấu vết tội lỗi chen vào giữa Mẹ và Thiên Chúa. Là một tâm hồn luôn luôn nghiền ngẫm Kinh thánh, chắc hẳn Đức Maria nhớ lại Lời Chúa đã dùng Ngôn sứ Nathan mà thề hứa với vua Đavit xưa. Nhưng điều mà Mẹ không bao giờ nghĩ tới là mình có thể đóng vai trò gì trong việc thực hiện lời tiên tri ấy. Chuyện “không thể” được đầu tiên là làm sao mình sinh con được vì đã quyết “không biết đến chuyện vợ chồng” để sống trọn vẹn cho một mình Thiên Chúa mà thôi. Sau khi được Sứ thần giải thích rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Maria khiêm nhường thưa lại: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Và thế là Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể làm người trong lòng Đức Trinh Nữ. Và thế là Đức Maria khiêm nhường đã trở thành Thánh Mẫu của Thiên Chúa.

Đức Maria là người diễm phúc vì Mẹ đã tin như bà Êlisabet đã thốt lên: “Phúc cho em vì đã tin những lời Chúa phán”.

Đọc Kinh Mân Côi là kết nối hai chiều đi đi về về giữa Đức Maria xuống với con người và giữa con người lên với Đức Maria, cách tự nhiên như tình mẫu tử.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thổ lộ tâm tình: “Từ thuở niên thiếu, lời kinh Kinh Mân Côi đã có một chỗ đứng quan trọng trong đời sống thiêng liêng của tôi… Kinh Mân Côi đã đồng hành với tôi trong những lúc vui sướng và trong những giai đoạn khó khăn. Tôi đã giao phó cho lời kinh ấy biết bao lo âu; nơi lời kinh ấy tôi đã luôn tìm được sự nâng đỡ…. Kinh Mân Côi là lời kinh tôi ưa thích. Một lời kinh kỳ diệu! Kỳ diệu qua vẻ đơn sơ và chiều sâu của nó.”

b. Kết nối với Chúa Giêsu

Điều huyền diệu làm cho chuỗi Mân Côi hữu hiệu là khi đọc chúng ta vừa cầu nguyện vừa suy niệm. Kinh Lạy Cha dâng lên Chúa Cha, Kinh Kính Mừng dâng lên Đức Maria và Kinh Sáng Danh dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Những tâm tình suy niệm hướng về Chúa Giêsu Kitô.

Chuỗi Mân Côi là một bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế.

Mân Côi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu cho đến những giây phút cuối.

Đọc Kinh Mân Côi là suy niệm các mầu nhiệm của Phúc Âm.

 

Vì thế, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói “Kinh Mân Côi không thay thế việc đọc Kinh thánh, lectio divina; trái lại, Kinh Mân Côi giả định trước và cổ võ việc đọc Kinh thánh. Trong Kinh Mân Côi, chúng ta cầu xin Mẹ giúp chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu mỗi ngày một hơn. Khi suy ngẫm về Kinh Mân Côi, chúng ta bước vào trường học của Đức Maria để Mẹ dạy chúng ta về Chúa Giêsu vì Mẹ đã nuôi dưỡng Chúa Giêsu, đồng hành với Chúa Giêsu và cùng chịu khổ với Chúa Giêsu dưới cây thánh giá”.

 

Các mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương, Mừng, hòa quyện trong cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu. Chuỗi Mân Côi lần lượt diễn tả:

– Mầu nhiệm Vui: đồng hành với mầu nhiệm Nhập thể và đời sống âm thầm của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Sáng: đồng hành với những mốc thời gian hoạt động đặc biệt có ý nghĩa trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Thương: đồng hành với những đau khổ của cuộc khổ nạn Chúa Giêsu.

– Mầu nhiệm Mừng: đồng hành với vinh quang phục sinh của Đức Kitô.

 

Chuỗi Mân Côi là quà tặng quí báu, Thiên Chúa và Đức Mẹ trao cho chúng ta.

Người ta gọi chuỗi Mân Côi là kinh nguyện của người bình dân.

Các mầu nhiệm Mân Côi còn được gọi là cuốn sách Phúc Âm rút gọn của người bình dân.

 

Cứ 10 Kinh Kính mừng lại suy gẫm về một mầu nhiệm mùa Vui, Sáng, Thương, Mừng.

c. Kết nối với mọi người với nhau

Đọc kinh Mân Côi mỗi người được kết nối với Đức Maria và với Đức Kitô, từ đó được hiệp thông với mọi tín hữu.

Kinh Mân Côi là lời kinh phổ cập, đó là kinh của mọi tín hữu. Ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người ít học, người giàu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi. Kinh Mân Côi có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người công giáo họp nhau lại. Đọc Kinh Mân Côi với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Giáo Hội công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc thu tóm lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế.

Cầu nguyện với Đức Mẹ bằng lời kinh Mân Côi, chúng ta được kết nối với Chúa Giêsu là nguồn mạch ban sự sống. Bóng đèn muốn được toả sáng thì phải được nối kết với nguồn điện. Cành nho muốn được trổ sinh hoa trái thì phải được tháp nhập vào thân nho. Bàn tay muốn sống còn và hoạt động thì phải liên kết với cơ thể. Con người muốn được sống dồi dào và vĩnh cửu thì phải nối kết với cội nguồn là Chúa Giêsu.

Chuỗi Mân Côi mang đến vô vàn huyền diệu cho con người. Ai yếu đuối, Kinh Mân Côi đem cho sức mạnh; ai tội lỗi, Kinh Mân Côi dắt về ơn thánh; ai bất hạnh, Kinh Mân Côi giúp bình tĩnh tìm ra hướng lối vươn lên; ai khô khan, Kinh Mân Côi giúp khám phá ra những ánh lửa vẫn còn ẩn giấu trong những đám tro tưởng như nguội lạnh.

Kinh Mân Côi là lời kinh kết nối mỗi người với Chúa Giêsu, với Mẹ Maria và với nhau. Đó là kinh nguyện phổ biến, vừa dễ đọc vừa dễ cầu nguyện mà lại mang lại nhiều ích lợi cho linh hồn.

3. Hãy siêng năng lần hạt

Chuỗi Mân Côi nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú.

Chuỗi Mân Côi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ Maria.

Cầm Chuỗi Mân Côi trên tay, chúng ta sẽ thấy mình được tăng thêm nghị lực, sống vươn lên với niềm Tin, Cậy, Mến.

Theo lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô, chúng ta quyết tâm sống theo lời Mẹ trong dịp hiện ra lần cuối tại Fatima là “hãy siêng năng lần hạt”. “Ai mến Mẹ thì yêu thích chuỗi Mân Côi. Bởi vì chỉ có người yêu mới lặp lại một chuyện, một lời mà không biết nhàm chán” (Đường Hy vọng số 947).

Lạy Mẹ Maria, xin dạy chúng con biết yêu mến tràng Chuỗi Mân Côi, siêng năng lần hạt trong mỗi ngày sống, nhờ đó chúng con được hiệp thông nối kết với nhau và cầu nguyện cho nhau. Xin Mẹ khẩn cầu cho chúng con bên tòa Chúa. Amen.

 

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An - Kinh Mân Côi, lời kinh gần gũi – Kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi – website: https://www.tonggiaophanhanoi.org/kinh-man-coi-loi-kinh-gan-gui-kinh-trong-the-duc-me-man-coi/


KINH MÂN CÔI - NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN

 

KINH MÂN CÔI - NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN



Tác giả: Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, O.P.

Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/kinh-man-coi-nguon-goc-va-su-phat-trien-42818#:~:text=D%C3%B9%20sao%20n%C3%AAn%20bi%E1%BA%BFt%20%E1%BB%9F,(Kh%C3%B4i)%20l%C3%A0%20%C4%91%C3%A1%20qu%C3%BD.&text=Ch%C3%BAng%20ta%20quen%20g%E1%BB%8Di%20n%C4%83m%20s%E1%BB%B1%20Vui%20%2DTh%C6%B0%C6%A1ng%20%2D%20M%E1%BB%ABng.

NHẬP ĐỀ

Bài chia sẻ này không phải là một suy niệm theo nghĩa chặt (mặc dù ở phần kết, chúng ta sẽ thấy rằng bản chất của kinh Mân Côi là việc suy niệm hoặc chiêm niệm các mầu nhiệm của Chúa Kitô), nhưng chỉ trình bày lịch sử kinh Mân Côi theo những nghiên cứu trong thế kỷ XX. Năm nay chúng ta mừng hai kỷ niệm lịch sử quan trọng.

1/ Thứ nhất là kỷ niệm 800 năm ngày tạ thế của thánh Đa Minh. Nếu không phải tất cả các bức họa vẽ thánh Đa Minh đều gắn liền với kinh Mân Côi, thì ngược lại, có đến 80 phần trăm các bức học về Đức Mẹ Mân Côi đều có sự hiện diện của thánh Đa Minh; 20 phần trăm còn lại thì sao? Thưa rằng 10 phần trăm dành cho Đức Mẹ Lộ Đức và 10 phần trăm dành cho Đức Mẹ Fatima. Trong cả hai lần hiện ra này, Đức Mẹ đều mang tràng chuỗi và khuyến khích đọc kinh Mân Côi nhưng không có thánh Đa Minh đi kèm; nhưng mỗi khi đề cập đến nguồn gốc kinh Mân Côi thì không thể nào vắng bóng thánh Đa Minh. Theo tục truyền, chính Đức Mẹ đã hiện ra trao tràng hạt cho thánh Đa Minh, và thậm chí người ta còn xác định thời gian và nơi chốn nữa: đó là vào năm 1208, tại Prouilhe (miền Nam nước Pháp). Lúc ấy thánh Đa Minh đang giảng đạo cho lạc giáo Albigeois, và không được thành công cho lắm; thế nhưng nhờ chuỗi Mân Côi từ trời ban, ngài đã thu được kết quả phi thường.

2/ Kỷ niệm thứ hai đáng nhớ trong năm nay là chiến thắng của đội quân Kitô giáo ở Lepanto, ngày 7/10/1571 (nghĩa là cách đây 450 năm), đưa đến việc thiết lập lễ Mân Côi trong lịch phụng vụ. Ngoài ra, còn một kỷ niệm nho nhỏ nữa, như sẽ nói sau, là năm nay kỷ niệm 600 năm ấn định hình thức đọc kinh Mân Côi (năm 1421).

Thế nhưng, từ cuối thế kỷ XIX, kỷ niệm thứ nhất đã bị khoa lịch sử xét lại, theo đó thánh Đa Minh chẳng có dính dáng gì đến kinh Mân Côi hết! Vấn nạn dựa trên hai luận cứ chính: thứ nhất, các tài liệu cổ điển không hề nhắc đến việc thánh Đa Minh rao giảng Kinh Mân Côi; thứ hai, kinh Mân Côi được thành hình qua một tiến trình kéo dài nhiều thế kỷ: một đàng nó bắt đầu trước khi thánh Đa Minh xuất hiện, đàng khác nó hoàn tất gần 300 năm sau khi thánh nhân qua đời. Phần lớn bài nói chuyện hôm nay được dành cho luận cứ thứ hai, ôn lại nguồn gốc và sự tiến triển của kinh Mân Côi, bởi vì luận cứ thứ nhất đơn giản, khỏi cần dài dòng. Thực vậy, các nguồn sử liệu đầu tiên kể lại cuộc đời của thánh nhân và việc thành lập Dòng Giảng thuyết (thế kỷ XIII) [1], không hề đả động đến kinh Mân Côi, mặc dù nói rất nhiều về lòng hiếu thảo của ngài cũng như của thế hệ tiên khởi của Dòng đối với Đức Thiên Chúa Thánh Mẫu, mà dấu chỉ độc đáo nhất là các anh em khấn vâng lời Người[2]. Bài này gồm hai phần. Trước hết, chúng ta sẽ theo dõi sự tiến triển của Kinh Mân Côi dưới hai khía cạnh: hình thức và nội dung (hay nói kiểu kinh viện: chất thể và mô hình). Kế đó, xin đưa ra vài suy nghĩ về bản chất kinh Mân Côi, thêm vào vài nhận xét liên quan đến bối cảnh Việt Nam, cách riêng là chuyện từ ngữ. Tạm thời, chúng ta tạm dùng hạn từ “Mân Côi” vì đã quen thuộc, mặc dù trên thực tế, có khi còn được gọi là Mai khôi, Môi khôi, Văn côi; thời xưa gọi là kinh Rosa (mà ta có thể dịch là “hoa hồng” hay “bông hường”).

I. LỊCH SỬ TIẾN TRIỂN KINH MÂN CÔI

Như vừa nói, kinh Mân Côi có một tiến trình hình thành kéo dài nhiều thế kỷ trước và sau cuộc đời ngắn ngủi của thánh Đa Minh (k.1172-1221). Thực ra, nói đến sự tiến triển của kinh Mân Côi không phải là chuyện đơn giản. Để có thể nói đến sự tiến triển, trước phải xác định căn tính của nó: cái gì làm nên kinh Mân Côi? phải chăng đó là đọc 150 (hay là 50, hay là 200) kinh Kính Mừng? Việc lặp đi lặp lại kinh Kính Mừng đã đủ để cấu thành Kinh Mân Côi chưa, hay còn phải kèm theo việc suy gẫm các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu nữa? Ta tạm coi đây là khía cạnh hình thức; còn phần nội dung thì phải thêm vài câu hỏi nữa: đây là kinh nguyện dâng kính Đức Mẹ hay là kính nguyện hướng về Chúa Giêsu? Nên xếp vào khẩu nguyện hay tâm nguyện, suy niệm hay chiêm ngắm? Xin thưa trước rằng những câu hỏi vừa nói chỉ tìm được giải đáp vào giai đoạn cuối, chứ không phải vào lúc khởi đầu công trình, tựa như một ngôi nhà chỉ mặc hình thù nhất định sau khi đã hoàn thành, chứ vào lúc khởi công thì chỉ thấy một đống gạch và bao xi-măng. Bây giờ chúng ta hãy bắt đầu với việc thu gom chất liệu, rồi dần dần cất lên ngôi nhà.

A. Tiến triển về hình thức

Về hình thức cấu thành kinh Mân Côi, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu lịch sử của các yếu tố sau đây: 1) tràng chuỗi đọc kinh; 2) bộ thánh vịnh kính Đức Mẹ; 3) liên kết với cuộc đời Chúa Cứu thế.

1/ Chuỗi đọc kinh

Lối tiếp cận đơn giản nhất là xâu chuỗi (“lần chuỗi Mân Côi”). Trong lịch sử các tôn giáo, việc sử dụng xâu chuỗi để đọc kinh không phải là cái gì độc đáo của Kitô giáo. Chung quanh ta, Phật giáo cũng có tràng chuỗi, với nhiều loại khác nhau, từ 16,18 cho đến 108 hạt. Tôi còn nhớ bài thơ “Hương Sơn phong cảnh ca” của Chu Mạnh Trinh được học thuộc lòng khi còn ở cấp hai: “Lần tràng hạt, niệm Nam mô Phật”. Đi xa hơn một chút về phía Tây, các tín đồ Islam cũng có tràng chuỗi 99 hạt kính các danh hiệu của Thượng Đế. Chúng ta cũng biết là các tràng chuỗi được dùng bằng các chất liệu khác nhau (xương, đá, ngà voi, thủy tinh, vân vân). Các đan sĩ Đông phương Kitô giáo cũng sử dụng các xâu chuỗi khi niệm danh Chúa Giêsu (Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi). và lặp đi lặp lại cả ngàn lần mỗi ngày[3]. Không hiểu tục lệ này là do sáng kiến của các đan sĩ, hay là chịu ảnh hưởng của các Ấn giáo và Phật giáo. Cần nói thêm là bởi vì các đan sĩ nghèo cho nên họ không chế ra những chuỗi hạt đắt tiền, mà chỉ dùng những sợi dây thắt nút[4].

2/ Tràng chuỗi 150 kinh Kính Mừng

Như vừa nói, tràng chuỗi chỉ là một dụng cụ để đếm, và cụ thể là đếm các kinh đọc vắn tắt. Từ đó ta có thể mường tượng nhiều loại chuỗi khác nhau, tùy theo chúng được sử dụng để đọc kinh gì. Đến đây, chúng ta hãy tiến thêm một bước nữa, đó là tràng chuỗi 150 hạt. Chúng ta hãy để các tôn giáo khác ra ngoài và chỉ tập trung vào đạo Công giáo. Tràng chuỗi 150 hạt dùng để đọc kinh gì? Thưa để đọc 150 thánh vịnh. Nên biết là cho đến công đồng Vaticanô II, các tu sĩ mỗi tuần phải đọc trọn bộ thánh vịnh (cuộc cải tổ dưới thời ĐTC Phaolô VI năm 1970 kéo dài ra chu kỳ 4 tuần như hiện nay). Các tu sĩ nào không đọc tiếng Latinh thì thay thế 150 thánh vịnh bằng 150 kinh Lạy Cha. Tục lệ này được ghi nhận nơi các tu sĩ Cluny (dòng Biển Đức) vào thế kỷ X.

Sang thế kỷ XI, nhờ việc cổ động lòng kính mến Đức Mẹ của thánh Bênađô (1090-1153), ngoài tràng chuỗi 150 kinh Lạy Cha, các đan sĩ Xitô còn thêm tràng chuỗi 150 hạt để đọc kinh Kinh Mừng. Tràng chuỗi được gọi là bộ thánh vịnh kính Đức Mẹ (Psalterium Beatae Mariae Virginis). Nên lưu ý là đang khi kinh “Lạy Cha” đã có hình thức cố định trong Tân Ước (với hai mẫu thức theo Tin Mừng Matthêu 6,9-13 và Luca 11,9-13, tuy mẫu thức của Matthêu phổ biến hơn), thì kinh “Kính Mừng” phải chờ 16 thế kỷ mới mang hình thức cố định. Trong thiên niên kỷ thứ nhất, có người đã sử dụng lời chào của sứ thần và của bà Elizabeth để chào Đức Maria (Lc 1,28.42), nhưng mãi đến thế kỷ XI, người ta mới dùng như lời cầu nguyện, và kết thúc tại đó (Ave Maria gratia plena, Dominus tecum, / benedicta tu in mulieribus, et benedictus fructus ventris tui). Thánh danh “Giêsu” được thêm vào giữa thế kỷ XII. Phần thứ hai của kinh Kính Mừng xuất hiện từ thế kỷ XIV (nghĩa là sau thánh Đa Minh), lúc đầu ngắn ngủi (“Sancta Maria, ora pro nobis”), rồi dần dần, mỗi nơi mỗi thời kèm thêm một vài lời khẩn nài (chẳng hạn: “xin Mẹ cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi”). Mãi đến khi đức thánh Piô V công bố sách nguyện cải tổ theo ý định công đồng Trentô (năm 1568), kinh Kính Mừng mới mang một hình thức cố định trong toàn thể Hội thánh.

3/ Việc đọc kinh Kính Mừng gắn liền với cuộc đời Chúa Cứu thế

Việc đọc bộ thánh vịnh kính Đức Mẹ chưa đủ để tạo nên căn tính của Kinh Mân Côi. Cần phải đi thêm bước thứ ba nữa, đó là gắn liền kinh Kính Mừng với các mầu nhiệm của Chúa Cứu thế. Giai đoạn này diễn ra vào thế kỷ XV với nhiều sáng kiến khác nhau, trở thành nguyên nhân cho nhiều cuộc tranh luận giữa các sử gia. Có hai sáng kiến nổi bật nhất, một của Dòng Chartreux, một của Dòng Đa Minh.

a) Sáng kiến thứ nhất của Dòng Chartreux[5] do hai tu sĩ sống hầu như đồng thời nhưng có lẽ không quen biết nhau. Một là cha Henricus Egher Kalcar (1328-1408) ở Koln, chia bộ thánh vịnh Đức Mẹ ra thành 15 chục (có lẽ dễ đếm trên các ngón tay), và đầu mỗi chục thì thêm một kinh Lạy Cha. Hai là cha Dominicus Prussia (1384-1460)[6]: vào cuối mỗi kinh Kính Mừng (lúc đó chỉ có phần thứ nhất, sau thánh danh Giêsu, thêm một câu ngắn liên quan đến cuộc đời Chúa Cứu thế. Tất cả là 50 câu: 14 câu về thời thơ ấu, 6 câu về thời hoạt động công khai, 23 câu về cuộc tử nạn, 7 câu về cuộc Khải hoàn. Thí dụ Ave Maria, gratia plena, Dominus tecum. Benedicta tu in mulieribus, et benedictus fructus ventris tui Jesus Christus, quem Angelo nuntiante de Spiritu Sancto concepisti. Amen... (và Giêsu, Đấng mà Bà thụ thai do Chúa Thánh Thần khi sứ thần truyền tin. Amen)

b) Sáng kiến thứ hai của Dòng Đa Minh, do cha Alain de la Roche O.P.[7] quảng bá. Sự đóng góp của cha Alain vào sự phát triển kinh Mân Côi thật lớn: cha đã phân chia bộ thánh vịnh Đức Mẹ ra làm ba phần để kính nhớ cuộc Nhập thể, Tử nạn, Vinh hiển của Chúa Kitô. Vào mỗi kinh Kính Mừng, cha thêm một tư tưởng suy niệm các chân lý đức tin. Như vậy ngoài việc lặp đi lặp lại kinh Kính Mừng, cha Alain còn thêm việc suy ngắm các mầu nhiệm về cuộc đời Chúa Kitô. Cha đã xuất bản nhiều tác phẩm để giải thích ý nghĩa của kinh Mân Côi (Tractatus de Rosario B. Mariae Virginis, Koln 1472 ; Quodlibet de veritate fraternitatis Rosarii seu Psalterii beatae Mariae Virginis, Koln 1476). Từ nay, “thánh vịnh đức Mẹ” được đổi tên thành “vòng hoa hường trinh nữ Maria”.

Ngoài việc rao giảng Kinh Mân Côi, cha Alain còn thành lập “Hiệp hội thánh vịnh Mẹ Maria” (Confrérie du psautier de Notre Dame), bắt đầu tại Douai (1470). Các hội viên cam kết đọc hết 150 kinh Kính Mừng mỗi ngày[8], cũng như cam kết xưng tội rước lễ vào lúc ghi danh và mỗi năm ba lần (lễ Hiện xuống, lễ thánh Đa Minh, lễ Giáng sinh). Như vậy qua việc đọc kinh Mân Côi, các hội viên được thúc giục đào sâu các mầu nhiệm đức tin và tham gia các bí tích nữa.

Phong trào của cha Alain tiến triển mau lẹ, một phần cũng nhờ sự hợp tác của anh em cùng Dòng. Năm 1474, một bàn thờ dành cho Hội Mân Côi đã được thành lập tại tu viện Frankfurt. Năm 1475 (năm mà cha qua đời), cha bá cáo cho biết rằng số hội viên lên tới hơn 50 ngàn. Cũng vào năm ấy, Huynh đoàn Mân Côi (Fraternitas Rosarii) được thành lập tại Koln (do bề trên Giacôbê Sprenger). Tuy gặp vài chống đối đây đó nhưng cả hai hiệp hội tại Lille và Koln đã được giáo quyền địa phương châu phê. Sang năm 1479, chính Đức Giáo hoàng Sixtô IV đã châu phê hiệp hội, với bulla Ea quae ex fidelium (8/5/1479), mở màn cho các văn kiện Toà thánh về kinh Mân Côi.

Trước sự bành trướng mạnh mẽ của kinh Mân Côi như vậy, cha Alain nghĩ rằng chắc là phải có sự can thiệp từ trời cao. Trong bối cảnh ấy, cha đã gán việc thành lập kinh Mân Côi cho một “thị kiến” trông thấy Đức Mẹ đã trao tràng hạt cho thánh Đa Minh như khí cụ bài trừ lạc giáo[9]. Đây là một “lý luận” rất thông thường vào thời đó. Cha Dominico de Prussia cũng cho rằng mình đã nhận sáng kiến từ một “thị kiến”. Không thiếu sử gia cho rằng cha Alain đã lẫn lộn cha Dominico de Prussia với thánh Đa Minh (Dominico de Guzman). Nhưng có ý kiến phản biện rằng Cha Alain không lẫn lộn đâu, vì cha có quen biết cha Dominico de Prussia, nhưng không đồng ý với sáng kiến của dòng Chartreux muốn rút gọn kinh Mân Côi xuống còn 50 kinh Kính Mừng, đang khi nguồn gốc của bộ thánh vịnh kính Đức Mẹ phải gồm đủ 150 kinh.

Một chặng nữa trên đường tiến triển của kinh Mân Côi là trong một cuốn sách xuất bản tại Venezia vào năm 1521 (năm nay kỷ niệm 500 năm), cha Alberto da Castello O.P. đã phân chia ba mầu nhiệm lớn của bộ thánh vịnh kinh Đức Mẹ (Nhập thể, Tử nạn, Vinh hiển của Chúa Kitô) thành 15 mầu nhiệm nhỏ.

Văn kiện quan trọng nhất của Toà thánh về kinh Mân Côi là bulla Consueverunt Romani Pontifices (17/9/1569) của Đức Thánh Giáo Hoàng Piô V (OP), trong đó ngài kể lại nguồn gốc, mô tả bản chất, và những mục tiêu của việc đọc kinh Mân Côi. Việc đọc kinh Mân Côi đã được phổ biến rộng rãi trong toàn thể Hội Thánh nhất là từ khi đức Piô V nhìn nhận sự chiến thắng của đạo quân Công giáo chống lại sự tấn công của quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Lêpantô (5/10/1571) là do lời chuyển cầu của Đức Mẹ Maria. Trong công hội (consistorium) ngày 17/3/1572 ngài quyết định thiết lập lễ Mân Côi để kính nhớ biến cố này. Tiếc rằng ngài đã qua đời (1/5/1572) trước khi thực hiện ý định. Theo lời thỉnh nguyện của cha Serafino Cavalli (tổng quyền Dòng Đa Minh), Đức Grêgôriô XIII đã thiết lập lễ Mân Côi (bulla Monet Apostolus, 1/4/1573) và cho phép cử hành vào chúa nhựt đầu tháng 10 tại bất cứ thánh đường nào có bàn thờ kính Đức Mẹ Mân Côi. Ngày 3/10/1716, đức Clêmentê XI nới rộng lễ này ra toàn thể Hội thánh để ghi nhớ một cuộc chiến thắng khác của lực lượng công giáo đẩy lui quân Thổ-nhĩ-kỳ tại Peterwarodine (gần Vienna, ngày 5/8/1716).

Dù sao, kinh Mân Côi từ thời thánh Piô V đã được ấn định là 150 kinh Kính Mừng được phân ra làm 15 chục. Cầu trúc này được duy trì cho đến ngày này. Duy có điều là với tông thư Rosarium Virginis Mariae (16/10/2002)ĐTC Gioan Phaolô II đã thêm 50 chục kinh mầu nhiệm Ánh sáng. Như vậy, tràng chuỗi Mân Côi ngày nay gồm 200 hạt, nhưng có lẽ ít người muốn “cập nhật” bởi vì dài quá! Chúng ta thường chỉ mang chuỗi 50 kinh.

B. Tiến triển về nội dung

Việc mô tả sự tiến triển hình thức vừa rồi đã cho thấy phần nào sự tiến triển về nội dung, từ chỗ đọc 150 kinh Kính Mừng đến việc gắn với việc suy niệm các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Cứu thế. Ở đây, khi bàn về sự tiến triển về nội dung, chúng tôi chỉ muốn nêu bật sự chuyển hướng từ kinh nguyện kính Đức Mẹ sang kinh nguyện kính Chúa Giêsu, và điều này xảy ra sau công đồng Vaticano II.

Kinh Mân Côi dịch từ Rosarium tiếng Latinh. Cha Alain tránh dùng tên ấy, và muốn gọi kinh này là Psalterium B.M.V., bởi vì vào thời ấy từ Rosarium mang ý nghĩa hàm hồ. Rosarium đôi khi được hiểu là một hợp tuyển những bài ca hay các danh ngôn. Rosarium cũng có nghĩa là vòng hoa hường mà các công tử mang biếu người đẹp. Rosarium cũng có nghĩa vòng hoa hường mà các cô bé đội trên đầu. Vết tích của ý nghĩa này còn được lưu lại trong tiếng Pháp chapelet (cái nón nhỏ: petit chapeau). Dù nói thế nào đi nữa, đây là một lời kinh kính Đức Mẹ, muốn dâng lên Mẹ những tràng hoa hồng để tỏ lòng thảo hiếu.

Sang thế kỷ XX, trong bối cảnh canh tân phụng vụ cũng như đối thoại đại kết, trọng tâm của kinh này đã được di chuyển từ Đức Maria sang Chúa Kitô. Trong số những văn kiện Toà thánh sau công đồng Vaticanô II bàn về kinh Mân Côi, cần phải nhắc đến tông huấn Marialis cultus của Đức Phaolô VI (2/2/1974) và tông thư Rosarium Virginis Mariae (16/10/2002). Hai văn kiện này không chỉ khuyến khích tăng gia việc lần hạt nhưng nhất là vạch cho thấy giá trị thần học của Kinh Mân Côi, theo đó kinh Mân Côi không phải là kinh kính Đức Mẹ cho bằng kinh kính Chúa Giêsu ; hay nói cách chính xác hơn : đây là kinh nguyện chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu nhờ cặp mắt và trái tim của Mẹ Maria[10]. Trong tông huấn Marialis cultus (số 42 ; 46), Đức Thánh Cha Phaolô VI đã gọi kinh Mân Côi là “toát yếu Tin Mừng” totius Evangelii breviarium[11]; và “kinh nguyện Tin Mừng” (oratio evangelica) bởi vì nhắm đến trung tâm là mầu nhiệm Nhập thể và Cứu chuộc của Chúa Kitô (xc. GLCG số 971).

Tông thư của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II một đàng lặp lại giáo huấn của vị tiền nhiệm, đàng khác đã mở ra nhiều hướng mới về đạo lý cũng như về thực hành. Xét về nội dung, tông thư giới thiệu kinh Mân Côi như kết hiệp với Đức Maria để chiêm ngắm Chúa Kitô : từ chỗ nhớ lại cuộc đời của Chúa, đến chỗ bắt chước, khẩn cầu cũng như loan báo. Những chiều kích này trùng hợp với kinh nguyện phụng vụ, xoay quanh các biến cố Nhập thể, Tử nạn và Phục sinh của Chúa Kitô (số 18-25). Xét về thực hành, có thể ví buổi đọc kinh Mân Côi như một buổi Lectio divina (số 26-38) với bốn bước cổ điển: công bố Lời Chúa (lectio), thinh lặng (meditatio), cầu nguyện (oratio, đọc kinh Lạy Cha, Kính Mừng), chiêm ngắm (contemplatio kinh Sáng danh).

II. VÀI SUY TƯ

Vì thời giờ ngắn ngủi, tôi chỉ xin đưa vài suy tư ngắn ngủi, xoay quanh hai mục: 1/ bản chất Kinh Mân Côi. 2/ Kinh Mân Côi trong bối cảnh Việt Nam

A. Bản chất Kinh Mân Côi

Chúng tôi chỉ muốn dừng lại ở hai điểm: 1/ hình thức cầu nguyện, 2/ đối tượng cầu nguyện

1/ Hình thức cầu nguyện

Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo kê ra ba hình thức cầu nguyện: khẩu nguyện (số 2700-2703); suy niệm (số 2705-2708); chiêm ngắm (số 2709-2719). Kinh Mân Côi bao gồm cả ba hình thức ấy. Quả là tuyệt vời! Tông thư Rosarium Virginis Mariae của ĐTC Gioan Phaolô II đã vạch ra 5 chiều kích của việc chiêm ngắm Kitô giáo như sau (số 13-17): a) Hồi tưởng công trình của Thiên Chúa; b) Học hỏi Chúa Kitô; c) Họa theo Chúa Kitô; d) Khẩn cầu Chúa Kitô; e) Loan báo Chúa Kitô.

2/ Đối tượng cầu nguyện

Đối tượng của việc chiêm ngắm là mầu nhiệm Đức Kitô. Như đã nói trên đây, có một sự chuyển hướng quan trọng trong việc xác định bản chất của kinh Mân Côi. Vào lúc đầu, kinh này được quan niệm như là một tràng hoa hồng dâng kính Mẹ Maria (bộ thánh vịnh 150 kinh Kính Mừng); nhưng ĐTC Phaolô VI và Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng đây là một việc chiêm ngắm các mầu nhiệm Đức Kitô, với cặp mắt và trái tim của Mẹ Maria. Lối giải thích này hợp lý hơn bởi vì trong khi năm mầu nhiệm mùa Vui, ta thấy có sự hiện diện của Mẹ, nhưng qua các mầu nhiệm mùa Sáng (ngoại trừ tiệc cưới Cana) và mùa Thương thì Mẹ rút vào bóng tối.

Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo đã dành các số 512-560 để bàn về đề tài “Các mầu nhiệm cuộc đời Đức Kitô”: các biến cố cuộc đời Đức Kitô mặc khải Thiên Chúa và thực hiện ơn cứu độ nhân loại. Chúng tôi chỉ muốn ghi nhận bốn điểm

a) Trước đây, nhiều khi chúng ta chú trọng đến chi tiết của 15 mầu nhiệm (mùa Vui – Thương – Mừng) mà quên rằng tất cả xoay quanh ba trục chính của công trình Đức Kitô, đó là: mầu nhiệm Nhập thể, Thập giá và Phục sinh (hay Vượt qua).

b) Trong lịch sử thần học, ngay từ thời các giáo phụ, có hai điểm nhấn khác nhau về ý nghĩa ơn cứu độ. Bên Đông phương, ơn cứu độ hệ tại việc “Con Thiên Chúa làm người ngõ hầu con người được làm con Thiên Chúa”; do đó ơn cứu độ được thực hiện kể từ lúc Nhập thể. Bên Tây phương, ơn cứu độ hệ tại con người tội lỗi được hòa giải với Thiên Chúa; và điều này được thực hiện nơi thập giá của Đức Kitô (cuộc phục sinh không được nhấn mạnh lắm)[12].

c) Có một khoảng trống giữa việc nhập thể và vượt qua của Đức Kitô. Cuộc đời ẩn dật tại Nazareth và cuộc đời công khai giảng đạo có góp phần vào công trình cứu độ không? Lấy lại tư tưởng của thánh Tôma Aquinô, sách Giáo lý Hội thánh Công giáo coi cuộc đời ẩn dật, các lời giảng, các việc thương xót chữa lành cũng mang tính cách cứu độ (số 517; 535-560). Đó là lý do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chen thêm “Năm sự sáng” vào kinh Mân Côi.

d) Dựa theo tiêu chuẩn nào để “chọn lọc” 5 mầu nhiệm cuộc đời công khai của Chúa Kitô? Thật là khó nói. Người ta nhận thấy rằng ngay từ năm 1957, thánh Georges Preca, một linh mục hăng say với công cuộc huấn giáo ở Malta (1880-1962), đã viết một cuốn sách về Năm mầu nhiệm ánh sáng: (1) Đức Giêsu lãnh phép rửa tại sông Giordan và được đưa vào hoang địa; (2) Đức Giêsu tự mặc khải là Thiên Chúa bằng lời nói và phép lạ; (3) Đức Giêsu giảng dạy các mối phúc trên núi; (4) Đức Giêsu biến hình trên núi; (5) Đức Giêsu dùng bữa tiệc lý với các tông đồ[13]. Phải chăng Đức Gioan Phaolo II đã được gợi hứng từ đây?

B. Trong bối cảnh Việt Nam

Chúng tôi muốn thêm bốn nhận xét về việc chuyển dịch các từ ngữ liên quan đến kinh Mân Côi, các mầu nhiệm, các hoa trái và cuối cùng Kinh Kính Mừng.

1/ Tên gọi của kinh

Theo ông Nguyễn Cung Thông[14], lúc đầu, ở nước ta, kinh này được gọi là kinh Rosa (hoặc Rosario). Mãi đến từ điển Taberd (1838) mới thấy tên gọi “Hoa Môi khôi”. Dù sao nên biết ở miền Trung và Nam, từ “Môi khôi” thông dụng hơn, còn miền Bắc thì quen gọi là “Mân Côi, hay Văn côi” từ thế kỷ XIX. Những từ này gốc Hán Việt và có thể đọc theo nhiều cách khác nhau: Mai (hoặc Mân, Môi) là hoa hồng, bông hường; Côi (Khôi) là đá quý.

2/ Tên gọi ba mùa

Chúng ta quen gọi năm sự Vui -Thương - Mừng. Nhưng thử hỏi: có cái vui nào mà chẳng mừng, và có cái mừng nào mà chẳng vui? Thực ra nếu muốn dịch sát nghĩa, thì phải gọi là các mầu nhiệm “Vui mừng” (gaudiosa, joyful) – “Đau thương” (sầu khổ, dolorosa, sorrowful) – “Vinh hiển” (vinh quang: gloriosa, glorious).

3/ Các hoa trái

Nếu ai có dịp tham dự buổi đọc kinh Mân Côi ở nước ngoài, thì sẽ thấy người ta chỉ xướng lên mầu nhiệm (thí dụ Truyền tin cho Đức Mẹ); ở Việt nam còn thêm “ta hãy xin cho được ở khiêm nhường”. Tục lệ này bắt nguồn từ đâu vậy? Sau khi đi tra cứu, tôi thấy rằng đây không phải là sáng kiến của dân ta, nhưng là do thánh Louis Marie Grigion de Montfort, (Le Secret Admirable du Très Saint Rosaire)[15]. Sau khi suy niệm một mầu nhiệm, ngài thêm ý nguyện xin bắt chước bằng việc thực hành một nhân đức, được gọi là “hoa trái” (fruits). Thực ra danh sách các hoa trái trong nguyên bản rộng hơn là tập tục của Việt Nam. Xin trưng dẫn để đối chiếu[16].

a) Các mầu nhiệm vui mừng: Khiêm nhường; Bác ái với tha nhân; Thoát ly khỏi của cái thế gian, yêu mến đức thanh bần và những người nghèo; Vâng lời (hoặc: Thanh tịnh xác hồn); Sự khôn ngoan của Thiên Chúa (hoặc: niềm vui gặp gỡ Chúa Giêsu).

b) Các mầu nhiệm đau thương: Thống hối tội lỗi (hoặc: vâng theo ý Chúa); Khổ chế giác quan; Khinh chê thế gian (hoặc lòng can đảm); Kiên nhẫn vác các thánh giá của mình; Cầu xin cho các tội nhân được hoán cải, người lành được bền tâm; Các linh hồn trong luyện tội được nâng đỡ (hoặc: tha thứ; chết lành).

c) Các mầu nhiệm hiển vinh: Lòng yêu mến Thiên Chúa và nhiệt tâm phụng sự Ngài (hoặc: đức tin); Ước mong quê thật trên trời (hoặc: đức hy vọng); Chúa Thánh Linh ngự xuống tâm hồn chúng ta (hoặc: đức mến, ơn thâm hiểu); Lòng thảo hiếu với Đức Mẹ; Bền đỗ trong ân sủng và xin được hạnh phúc trên thiên đàng (hoặc: tin tưởng vào lời chuyển cầu của Đức Mẹ).

Dĩ nhiên, không ai cấm chúng ta thay đổi các ý chỉ này. Chẳng hạn như khi chiêm ngắm mầu nhiệm truyền tin chúng ta có thể xin cho biết đáp lại lời Fiat như Đức Mẹ, hoặc sống sự tự hủy (kenosis) của Đức Kitô.

4/ Kinh Kính Mừng

Kinh Kính Mừng đã mất hơn 15 thế kỷ mới có hình thức nhất định. Sang nước Việt Nam, cũng cần ba thế kỷ mới đạt được bản dịch như ngày nay[17]. Chúng tôi chỉ trưng dẫn vài mẫu tượng trưng.

a) Tiền bán thế kỷ XVII: “A Ve Ma Ri A, đầy ga ra sa, Chúa Dêu ở cùng Bà, nữ trung Bà có phúc lạ, Bà thai tử Giê Su , Người là Mẹ Đức Chúa Trời, thì xin cầu cho chúng tôi vì là kẻ có tội, lại xin phù hộ khi còn sống và khi rình qua đời”.

b) Năm 1869: “A Ve Ma Ri A đầy ga ra sa, Chúa Deo ở cùng bà, nữ trung bà có phúc lạ, bà thai tử Giê Su gồm phúc lạ. Sang Ta Ma Ri A đức mẹ chúa Deo, cầu cho chúng tôi kẻ có tội khi nay cập thần đẳng tử hầu”.

c) Đầu thế kỷ XX: “Ave Maria, đầy ga-la-ti-a, Chúa Dêu ở cùng bà, nữ trung bà có phước lạ, thai tử Giê-su gồm phước lạ. Xăng-ta Maria, Đức Mẹ Chúa Dêu, cầu cho chúng tôi, khi nay và cập thần đẳng tử hậu. Amen”.

d) Giữa thế kỷ XX (sau công đồng Đông Dương): “Kính Mừng Maria đầy ơn phúc (phước), Ðức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ, hơn mọi người Nữ, và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria Ðức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi này (nay) và trong giờ lâm tử. Amen”.

Điều chúng tôi muốn lưu ý là “benedictus” và “benedicta” trong lời chào của bà Elizabeth (Lc 2,42) được dịch là “có phúc lạ”. Nhóm Các Giờ kinh phụng vụ dịch sát nghĩa hơn là “được chúc phúc” (Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc). Theo nghĩa này, người ta có thể xen thêm “và Giêsu, Đấng (Bà đã cưu mang, Đấng Bà mang đến viếng thăm bà Ysave, Đấng Bà đã sinh ra, Đấng được dân hiến cho Chúa Cha, Đấng dạy dỗ trong đền thờ, vv.) được chúc phúc”.

KẾT LUẬN: KINH MÂN CÔI VỚI DÒNG ĐA MINH

Như đã nói ở đầu, mỗi khi nói đến nguồn gốc Kinh Mân Côi, người ta không thể nào bỏ qua thánh Đa Minh. Liệu những nghiên cứu lịch sử gần đây có làm lung lay mối tương quan ấy không?

Xin thưa rằng kinh Mân Côi không do Đức Mẹ trao cho thánh Đa Minh, nhưng nó trở thành gia sản của Dòng. Ta có thể chứng tỏ điều này qua nỗ lực truyền bá kinh Mân Côi kể từ cha Alain de la Roche, xuyên qua các Hiệp Hội Mân Côi[18]. Trong cuốn “Tìm hiểu Dòng Đa Minh”, tôi cũng đã trình bày những sáng kiến khác trong thế kỷ XX nhằm cổ vũ kinh này: hội Mân Côi sống (do chị Pauline Jaricot sáng lập), hội Mân Côi liên lỉ (do cha Augustin Chardon), Equipes du Rosaire, vv.[19]. Về mặt cơ chế, tại Trung ương của Dòng có một vị Tổng đặc trách Kinh Mân Côi, và mỗi tỉnh dòng cũng có một đặc trách cổ võ kinh Mân Côi[20].

Dù sao, với hướng đi của Huấn quyền ngày nay, kinh Mân Côi không chỉ là một việc đạo đức nội bộ, nhưng được gắn liền với trung tâm của Kitô giáo, tức là các mầu nhiệm của Chúa Kitô. Rao giảng kinh Mân Côi cũng là rao giảng Tin Mừng, bằng ngôn ngữ sát với đời sống thường ngày. Cầu nguyện kinh Mân Côi cũng mang một hình thức tương tự như cử hành phụng vụ và lectio divina. Thật là một gia sản đáng cho chúng ta cần trân trọng, đặc biệt khi những cổ động viện của kinh Mân Côi không chỉ là các giáo hoàng nhưng nhất là chính Đức Mẹ Maria khi hiện ra ở Lourdes và Fatima.

Thư mục

(Những tác phẩm bàn về nguồn gốc kinh Mân Côi)

Thomas Esser, Unserer lieben Frauen Rosenkranz, Schöningh, Paderbon, 1889.

Franz Michel Willam, Die Geschichte und Gebetsschule des Rosenkranzes, Herder, Wien 1948.

Stefano Orlandi (a cura di), Libro del Rosario della Gloriosa Vergine Maria, Centro Internazionale Domenicano Rosariano, Roma, 1965.

Gilles Gérard Meersseman, Ordo Fraternitatis. Confraternite e pietà dei laici nel Medioevo, 3 voll., Herder, Roma 1977

Riccardo Barile, Il Rosario della Vergine, ESD Bologna 1990.

Anne Winston-Allen, Stories of the Rose. The Making of the Rosary in the Middle Ages, Penn State University Press, University Park (Pennsylvania) 1997.

Boguslaw Kochaniewicz, The contribution of the Dominicans in the development of the Rosary, in: Angelicum 81 (2004), 377-403.

Nguồn: daminhvn.net (03.10.2021)

 


[1] Phan Tấn Thành, Thánh Đa Minh: Sử ký và thánh ký, TSTH số 93 (tháng 8 năm 2021), trang 43-86.

[2] Phan Tấn Thành, Tìm hiểu Dòng Đa Minh. Học viện Đa Minh 2016, chương 16 “Dòng Đa Minh với Đức Maria” trang 240-256.

[3] Phan Tấn Thành, Truyền thống tâm linh trong các Giáo hội Đông phương (Đời sống tâm linh IV), NXB Phương Đông, TPHCM 2017, trang 187-195.

[4] Được gọi là kombológion hay komboskoínon (kómbos tiếng Hy-lạp có nghĩa là nút dây).

[5] Dòng Chartreux lấy tên từ địa điểm thành lập La Chartreuse (Pháp) năm 1084 do thánh Bruno (1030-1101). Lễ kính 6 tháng 10.

[6] Dominicus Prutenus (Dominikus von Preussen) được gọi theo nguyên quán (Danzica, ngày nay thuộc nước Ba-lan, nhưng thời ấy thuộc nước Phổ; Prussia), tên thật là Helion, sinh năm 1382, gia nhập đan viện dòng Chartreux ở Trier năm 1409, và qua đời năm 1460.

[7] Tên gọi là Alain de la Roche, tiếng Latinh là Alanus a Rupe (1428‑1475), phiên âm ra tiếng Ý và Tây-ban-nha thành Alanô. Cha sinh tại Dinan (Bretagne, Pháp), gia nhập dòng Đa Minh năm 1459, và đã từng dạy học tại Paris và giảng thuyết tại nhiều nơi ở Pháp, Bỉ, Đức. Cha qua đời tại Zwolle (Hà Lan) và được dòng Đa Minh kính như chân phúc tuy chưa được Giáo hội tuyên phong (lễ ngày 9 tháng 9).

[8] Cha Alain muốn các hội viên mỗi ngày đọc 150 kinh Kính Mừng. Tại Koln, nghĩa vụ được giảm bớt : các hội viên chỉ buộc đọc mỗi tuần 150 kinh Kính Mừng.

[9] Tục truyền còn gán cho cha Alain 15 lời hứa của Đức Mẹ dành cho kẻ siêng năng đọc kinh Mân Côi. Nhưng các văn kiện Tòa Thánh không đả động gì đến chuyện này.

[10] Một hệ luận mục vụ là có thể đọc kinh Mân Côi đang lúc chầu Mình Thánh Chúa.

[11] Thuật ngữ đã được đức Piô XII sử dụng từ năm 1946: Epistula Philippinas Insulas ad Archiepiscopum Manilensem, AAS 38,1946, p. 419.

[12] X. Phan Tấn Thành, Thần học và mầu nhiệm cứu độ, Thời sự thần học số 90 (tháng 11 năm 2020), trang 86-139, đặc biệt trang 100-101.

[13] John Formosa and Anthony Cilia, St George Preca and the new Rosary mysterieshttps://ocarm.org/en/item/3415-st-george-preca-the-new-rosary-mysteries

[14] Nguồn: https://cvdvn.net/2019/10/25/tieng-viet-thoi-lm-de-rhodes-trang-hot-chuoi-hot-chuoi-man-khoi-mai-khoi-moi-coi-phan-19

[15] Thánh Louis Marie Grignion de Monfort (1673-1716), nổi tiếng với cuốn sách “Thành thực sùng kính Đức Maria”, được ĐTC Gioan Phaolo II nhắc đến ở số 13 của tông thư về Kinh Mân Côi.

[16] Méthodes pour réciter le Rosaire (Saint Louis-Marie Grignion de Montfort) : christ-roi.net

[17] Nguyễn Cung Thông, “Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – các khuynh hướng dịch tiếng nước ngoài ra tiếng Việt: trường hợp bản Kinh Kính Mừng” (phần 26), nghiencuulichsu.com

[18] Boguslaw Kochaniewicz, The contribution of the Dominicans in the development of the Rosary, in: Angelicum 81 (2004), 377-403.

[19] Xc. Tim hiểu Dòng Đa Minh, Học viện Đa Minh 2016, trang 253-256. Ở trang 256 có thư tịch liệt kê những văn kiện của các bề trên tổng quyền từ năm 1963 đến năm 2010.

[20] Đặc trách của tỉnh dòng Việt Nam hiện nay là anh Phanxicô Xavie Trần Kim Ngọc, và một trong những phương tiện cổ động là mạng lưới hoimancoi.net và kinhmancoi.net