“Tôi
đến để cho đoàn chiên được sống
và sống
dồi dào” (Ga 10, 10)
“Tôi
đến để cho đoàn chiên được sống
và sống
dồi dào” (Ga 10, 10)
LỜI CHÚC MỪNG - RƯỚC LỄ LẦN ĐẦU
Các em
thân mến,
Trong niềm
vui tràn đầy của ngày Hồng ân, khi Lần đầu tiên các em được rước Chúa Giêsu
Thánh Thể vào lòng, Quý Dì xin gửi đến các em những Lời Chúc mừng chân thành và
Lời Cầu nguyện tha thiết nhất.
Chúc các
em luôn giữ được trái tim trong trắng, đơn sơ và đầy yêu mến như hôm nay.
Nguyện xin
Chúa Giêsu Thánh Thể luôn hiện diện trong tâm hồn các em, dẫn dắt các em mỗi
ngày trở nên ngoan hiền, thánh thiện, siêng năng cầu nguyện, chuyên chăm học hỏi
giáo lý,
sống vâng lời và yêu
thương mọi người.
Hôm nay là
khởi đầu cho một hành trình đức tin trưởng thành. Hãy để Chúa Giêsu đồng hành với
các em mỗi ngày, như một người bạn thân thiết, một người thầy dịu hiền và một Đấng
Cứu Độ đầy yêu thương.
Xin chân
thành chúc mừng Quý Phụ Huynh, Quý Giáo Lý Viên – những người đã đồng hành và
gieo hạt giống đức tin nơi tâm hồn các em.
Chúc các
em Rước Lễ Lần Đầu luôn sống trọn vẹn trong tình yêu của Chúa Giêsu!
10 TỪ CỔ TRONG KINH CẦU TRÁI TIM ĐỨC CHÚA GIÊSU
1. PHẠT TẠ
Nghĩa: Đền bù những xúc phạm đến Thiên Chúa.
Trong linh đạo Công giáo, phạt tạ là việc bày tỏ lòng
yêu mến, ăn năn và đền bù những tội lỗi, xúc phạm đến Thiên Chúa và Trái Tim
Chúa Giêsu.
2. PHẦN RỖI
Nghĩa: Ơn cứu độ, hạnh phúc Nước Trời.
Người Công giáo xưa thường nói: “Lo phần rỗi linh hồn”,
nghĩa là sống sao để được hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa.
3. TIỀN KHIÊN
Nghĩa: Những lỗi lầm, tội lỗi đã phạm trước đây.
Từ này diễn tả những lỗi phạm trong quá khứ cần được
Thiên Chúa tha thứ và khoả lấp bằng lòng thương xót của Ngài.
4. ĐOÁI XEM
Nghĩa: Đoái thương nhìn đến.
Khi cầu xin Chúa “đoái xem”, người tín hữu nài xin
Thiên Chúa nhìn đến với tình yêu thương, lòng cảm thông và sự trợ giúp.
5. DUỆ TRÍ
Nghĩa: Trí tuệ siêu việt, minh triết cao sâu.
Từ này thường dùng để diễn tả sự khôn ngoan vô cùng của
Thiên Chúa, vượt trên mọi hiểu biết của con người.
6. CĂN BỔN
Nghĩa: Nền tảng, căn nguyên của mọi sự.
Trong kinh nguyện, căn bổn chỉ nguồn gốc và nền tảng
phát sinh mọi điều thiện hảo.
7. TRÔNG ƯỚC
Nghĩa: Mong đợi, khát khao hướng về điều tốt đẹp.
Đây là tâm tình hướng về Thiên Đàng và những ơn lành
Thiên Chúa hứa ban cho những ai trung thành với Ngài.
8. KHOÁI LẠC
Nghĩa: Niềm vui sung mãn, hạnh phúc trọn vẹn trong
Thiên Chúa.
Trong ngôn ngữ kinh nguyện cổ, khoái lạc không mang
nghĩa hưởng thụ như cách hiểu phổ biến ngày nay, nhưng diễn tả niềm vui sâu xa
của các thánh trong tình yêu Thiên Chúa.
9. TƯỢNG SINH
Nghĩa: Được hình thành, được thụ thai.
Xuất hiện trong câu:
“Đã tượng sinh trong lòng Thánh Mẫu Đồng Trinh bởi
phép Đức Chúa Thánh Thần ban xuống.”
Từ này diễn tả mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể trong lòng
Đức Maria.
10. TÒA TRÓT TÍNH
Nghĩa: Nơi viên mãn, nơi trọn vẹn mọi sự hoàn hảo của
Thiên Chúa.
Trong Kinh Cầu Trái Tim Chúa Giêsu, cụm từ này diễn tả
Trái Tim Chúa là nơi hội tụ trọn vẹn mọi quyền năng, khôn ngoan, tình yêu và sự
thánh thiện của Thiên Chúa.
Ghi nhớ: Những từ cổ này không chỉ là di sản ngôn ngữ,
mà còn là kho tàng đức tin được gìn giữ qua nhiều thế hệ người Công giáo Việt
Nam. Việc hiểu đúng ý nghĩa các từ ấy giúp chúng ta đọc kinh sốt sắng hơn và cảm
nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của truyền thống...
- Giacôbê Bình & Team ST
VÌ
SAO CÓ NHIỀU ĐỊA DANH BẮT ĐẦU BẰNG CHỮ “PHAN”?
Khi nhìn vào bản đồ khu vực
cực Nam Trung Bộ, người ta dễ nhận thấy hàng loạt địa danh mang chữ “Phan” ở
phía trước như Phan Rang, Phan Thiết, Phan Rí, Phan Dũng, Phan Sơn, Phan Lâm,
Phan Hòa, Phan Điền, Phan Tiến, Sông Phan…
Điều này không phải ngẫu
nhiên.
Các tài liệu ngôn ngữ học
và lịch sử cho thấy phần lớn những địa danh này nằm trên vùng đất từng thuộc
vương quốc Champa. Trước khi người Việt đến định cư đông đảo, nơi đây đã tồn tại
hệ thống địa danh Chăm với lịch sử kéo dài hàng nghìn năm.
Địa danh Phan Rang được
nhiều nhà nghiên cứu xác định có nguồn gốc từ Pangdarang, Pandarang hoặc
Panduranga trong tiếng Chăm. Panduranga là tên gọi một tiểu quốc và sau này là
vùng đất cuối cùng của Champa còn duy trì quyền tự chủ. Qua quá trình Việt hóa
kéo dài nhiều thế kỷ, Pangdarang dần trở thành Phan Rang.
Đối với Phan Thiết, nhiều
giả thuyết cho rằng tên gọi này cũng xuất phát từ một địa danh Chăm cổ như Hamu
Lithít hoặc Mang Thít. Trong quá trình người Việt tiếp nhận và phiên âm các địa
danh bản địa, âm đầu “Phan” được sử dụng ngày càng phổ biến, tạo nên tên gọi
Phan Thiết ngày nay.
Một số tư liệu dân gian
và lịch sử địa phương còn ghi nhận cách gọi “Tam Phan”, gồm Phan Rang, Phan Rí
và Phan Thiết. Ba trung tâm này từng là những địa danh lớn, quen thuộc đối với
cư dân vùng duyên hải. Từ đó, yếu tố “Phan” dần trở thành một thành tố địa danh
quen thuộc và tiếp tục xuất hiện trong nhiều tên gọi hành chính hình thành về
sau.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng
không phải tất cả các địa danh có chữ “Phan” đều có chung một nguồn gốc hay
cùng xuất hiện từ thời Champa. Một số địa danh hiện nay được đặt tên trong thời
kỳ hành chính hiện đại, nhưng vẫn kế thừa truyền thống địa danh lịch sử của khu
vực.
Vì vậy, cách giải thích
được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận nhất hiện nay là:
Chữ “Phan” không phải là
một từ tiếng Việt mang ý nghĩa riêng trong các địa danh này, mà chủ yếu là kết
quả của quá trình Việt hóa các địa danh gốc Chăm cổ, đặc biệt là những địa danh
liên quan đến vùng Panduranga. Do ảnh hưởng lịch sử lâu dài của Champa, yếu tố
“Phan” đã trở thành một dấu ấn địa danh đặc trưng của cả một vùng đất.
Nói cách khác, mỗi khi bắt
gặp một địa danh bắt đầu bằng chữ “Phan”, chúng ta đang nhìn thấy một lớp trầm
tích lịch sử còn sót lại từ thời Champa trên bản đồ Việt Nam ngày nay.
Chi tiết tại nhóm: CỘNG
ĐỒNG CHĂM VIỆT NAM.
Đoàn sủng Đa Minh “Contemplare, contemplata aliis tradere - Nói với Chúa và nói về Chúa”
Vui tí:
CHÚA THÁNH THẦN… TỬ NẠN
Để bài giảng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống thêm phần sinh động, cha xứ sai ông trùm đem chú chim bồ câu lên nấp sẵn trên tum cung thánh và dặn: “Khi nào tôi giảng đến câu: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự xuống”, thì ông thả chim bay xuống nhé.”🕊️
Cha xứ tâm đắc với kế hoạch, yên trí giảng hùng hồn và dõng dạc nài van: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự xuống!”
Cha cố hô mấy lần vẫn không thấy chim bồ câu bay xuống. Sốt ruột, cha ngửa cổ nhìn lên thì thấy ông trùm thò đầu ra cuống quýt phân bua: “Thưa cha, Chúa Thánh Thần bị… mèo vồ mất rồi !”🐱💥
HẠT GIỐNG TỰ MỌC
1. Người gieo giống, xong
liền quên mất ngay đi.
Từng ngày qua, hạt lớn tươi tốt xanh rì.
Người không hay, ơn Chúa xanh tốt nở hoa.
Trong âm thầm, nuôi sống cho tâm hồn ta.
ĐK: Trong lúc không ai chờ mong,
Hạt giống đã mọc lên.
Trong lúc không còn hy vọng.
Hạt giống vẫn mọc lên.
Trong lúc không ai chờ mong,
Hạt giống đã mọc lên.
Trong lúc không còn hy vọng.
Hạt giống vẫn mọc lên.
2. Người
gieo giống, không còn lo ngóng trông chi.
Ngày đêm qua, được đất nuôi lớn lên dần.
Hạt sinh sôi, như Nước Thiên Chúa rộng lớn.
Trong âm thầm, trong lúc không ai ngờ kia.
Tại sao Bình Định Phú Yên
gọi là xứ Nẫu?
Xứ Nẫu là cụm từ thân
thương và đặc biệt để nói về vùng đất Bình Định, Phú Yên. Dọc miền Tổ Quốc có
nhiều vùng văn hóa khác biệt đã làm nên tên tuổi và cách nhận biết địa danh.
Trong đó, vùng xứ Nẫu nổi tiếng với những bãi biển xanh trong, món ăn đậm đà,
tính cách hào sảng. Và ấn tượng nhất là giọng nói của người Xứ Nẫu mang một
thanh âm gần gũi, nghe nhiều sẽ ghiền. Vậy tại sao gọi là xứ Nẫu?
Hãy cùng Quy Nhơn Tourist giải mã bí ẩn này các bạn nhé!
1. Khái quát nguồn gốc xứ
Nẫu
Theo dòng lịch sử Việt
Nam, vào năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Phù nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn
biên quan có bổn phận đưa lưu dân nghèo không sản nghiệp khai khẩn vùng đất mới
từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả (tỉnh Phú yên bây giờ). Sau 33 năm khai phá vùng
đất mới, hình thành làng mạc, năm 1611 chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên
gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.
Một góc đường Lê Thánh
Tôn, Quy Nhơn năm 1968. Ảnh: Sưu tầm
Năm 1629, chúa Nguyễn
Phúc Nguyên nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên. Do đặc điểm của vùng đất
mới còn hoang hóa, dân cư thưa thớt nên các đơn vị hành chính của vùng biên viễn
có những nét đặc thù. Dưới cấp huyện có cấp Thuộc, dưới Thuộc là các đơn vị
hành chính nhỏ hơn như Phường, Nậu, Man. Phường là các làng nghề có quy mô như
phường Lụa, phường Sông Nhiễu. Nậu là tổ chức quản lý một nhóm nhỏ cùng làm một
nghề, người đứng đầu gọi là đầu Nậu. Ví dụ: “Nậu nguồn” chỉ nhóm người khai
thác rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá,
“Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ, “Nậu cấy” chỉ nhóm người
đi cấy mướn, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm…
Phong cảnh biển Sông Cầu,
Phú Yên. Ảnh: Du lịch Sông Cầu
Do sự phát triển của xã hội
Đàng Trong, năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chú (1697-1738) cử Đại ký lục chính danh
Nguyễn Đăng Đệ quy định phạm vi, chức năng của các đơn vị hành chính. Các đơn vị
hành chính như “Thuộc”, “Nậu” bị xóa bỏ. Khái niệm thành tố chung cấp hành
chính “Nậu” được biến nghĩa dùng để gọi người đứng đầu trong đám người nào đó
và sau này dùng để gọi đại từ nhân xưng ngôi thứ ba. Từ “Nậu” không xuất hiện độc
lập mà chỉ có mặt trong các tổ hợp danh ngữ: Ví dụ:
-Mất chồng như nậu mất
trâu
Chạy lên chạy xuống cái đầu
chôm bơm.
– Tiếc công anh đào ao thả
cá
Năm bảy tháng trời nậu lạ
tới câu.
– Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non gởi xuống cá chuồn
gởi lên.
2. Đặc điểm cơ bản nhận
diện Xứ Nẫu
Từ chữ “Nậu” ban đầu,
phương ngữ Phú Yên – Bình Định tỉnh lược đại từ danh xưng ngôi thứ ba (cả số ít
và số nhiều) bằng cách thay từ gốc thanh hỏi. Ví dụ: Ông ấy, bà ấy được thay bằng:
“ổng”, “bả”. Anh ấy, chị ấy được thay bằng: “ảnh”, “chỉ”. Và thế là “Nậu” được
thay bằng “Nẩu”. Nẫu đã đi vào ca dao Bình Định, Phú Yên khá mượt mà, chân chất:
Ai về sông núi Phú Yên
Cho nẫu nhắn gở nỗi niềm
nhớ quê
Phương ngữ Thuận Quảng
(Thuận Hóa – Quảng Nam) với “mô, tề, răng, rứa, chừ”, vượt qua đèo Bình Đê
(ranh giới Bình Định – Quảng Ngãi) được đổi thành “đâu, kia, sao, vậy, giờ”. Và
đặc trưng ngữ âm của vùng Nam Trung bộ (Bình Định – Phú Yên) không phân biệt rạch
ròi cách phát âm dấu hỏi và dấu ngã. Đặc biệt, bà con vùng biển từ Hoài Nhơn
(Bình Định) đến Gành Đỏ (Sông Cầu – Phú Yên), các âm dấu ngã đều phát âm thành
dấu hỏi. Riêng đồng bằng Tuy Hòa, khi phát âm không phân biệt được dấu hỏi và dấu
ngã.
Quy Nhơn ngày nay là
thành phố biển sạch đẹp. Ảnh: Thanh Niên Online
Bởi vậy, “Nẩu” hay được
phát âm là “Nẫu”. Đồng bằng Tuy Hòa trù phú, nhiều nhà giàu trong vùng cho con
cái đi học chữ phương xa. Các vị có chữ nghĩa viết chữ “Nẩu” theo phát âm quen
miệng thành chữ “Nẫu”. Nói nôm na, tiếng Nẫu là tiếng địa phương của vùng Bình
Định và Phú Yên có nghĩa là họ, hay người ta, vì là “đại từ nhân xưng” nó nằm ở
vị trí ngôi thứ ba vừa số ít mà cũng vừa số nhiều.
Ví dụ thay vì hỏi “Hôm
nay người ta đi đâu mà nhiều vậy?” thì người dân Bình Định và Phú Yên hỏi là
“Hôm nay nẫu đi đâu mà nhiều dậy?” hay “Cái nhà này là của họ” thì dân Nẫu sẽ
nói là “Cái nhà nhà này là của nẫu”. Chính vì vậy mà khi hòa cùng tất cả tiếng
nói của mọi miền đất nước thì tiếng nẫu sẽ không lạc vào đâu được, thậm chí còn
dùng những từ hoàn toàn khác với những từ thông dụng, ví dụ thay vì nói “Vào tận
trong đó” thì nói là “Dô tuốt trỏng” hay hỏi “vậy hả?” thì hỏi là „dẫy na?“, “dẫy
ngheng” (vậy nghen hay thế nhé), “dẫy á” (vậy đó), “chu cha wơi” (trời đất ơi)
v.v…
3. Thanh âm xứ Nẫu trong
đời sống cộng đồng
Người Việt mình từ văn
minh lúa nước mấy ngàn năm đến giờ đã nổi tiếng là “nhà quê”, cho dù có ở thành
thị thì vẫn là “dân nhà quê” so với các nước khác. Vậy thử hỏi trong đất Việt
Nam mình, xứ nào là “nhà quê” nhứt? Đó chính là “xứ Nẫu”. Tôi đi khắp Việt Nam,
ai hỏi tôi quê đâu? Tôi thưa rằng quê tôi xứ Nẫu, tôi dân Nẫu, Nẫu nè, Nẫu ơi…
Vì sao “quê”, vì ngay cái
chữ “Nẫu” nghe nó đã quê rồi. Nó khởi thủy là chữ “nậu”, là một từ cổ ở miền
Trung Nam Bộ, theo cụ Vương Hồng Sển, nó cổ đến mức gần như là nguyên thủy,
ngày nay không còn ai dùng. Từ “nậu” để chỉ một nhóm người theo ngành nghề hoặc
theo nơi ở: ví dụ: “Nậu nguồn” chỉ nhóm người trên rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người
làm muối, “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng
rớ, “Nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm… mãi
sau, bằng nguyên lý tăng âm đặc trưng của dân Việt mình: “ông + ấy = ổng”, “chị
+ ấy = chỉ”, thì cái “nậu + ấy= Nẫu”.
Cá ồ nướng, món ăn đặc
trưng của xứ Nẫu. Ảnh: Sưu tầm
Xứ Nẫu bắt đầu từ Bình Định,
Phú Yên và một phần của Khánh Hòa. Cũng như các vùng miền khác, mà gần nhất là
xứ Quảng, giọng nói người xứ nẫu không lẫn vào đâu được. Người xứ Nẫu luôn nói
lớn tiếng, giọng nặng và hầu hết các âm tiết đều bị biến dạng theo hướng nặng
hơn, khó phát âm hơn…khó đến nỗi chỉ người xứ Nẫu mới nói được, làm như cái cấu
tạo thanh quản của dân xứ Nẫu đã khác đi so với người xứ khác. Nẫu (người ta),
rầu (rồi), cái đầu gấu (gối), trời tấu (tối), cái xỉ (muỗng), tộ (chén)…người xứ
Nẫu nói cho người xứ Nẫu nghe, cho nên từ ngữ quê mùa cục mịch, đến mức câu ca
dao mẹ hát ru con cũng nặng trình trịch, nhưng mà nặng nhất là cái tình:
Thương chi cho uổng công
tình
Nẫu dzìa xứ nẫu, bỏ mình
bơ vơ.
4. Tính cách con người xứ
Nẫu
Hồi nhỏ, mỗi lần tôi làm
điều gì không đúng, ông nội tôi thường nói: “đửng làm dẫy, nẫu cừ” (đừng làm vậy,
người ta cười), nhưng cũng có khi ông nội cho tôi thoải mái, muốn làm gì thì
làm, kể cả vấn thuốc rê của ổng ra sân ngồi hút phì phà như người lớn, vì: “nẫu
cừ thì kệ nẫu cừ, nẫu cừ lạnh bụng, hở mười cái răng”. Dân Nẫu đúng như giọng xứ
Nẫu, hiền nhưng cộc cằn, phóng khoáng nhưng ngang ngạnh, tình cảm nhưng hơi thô
kệch…
Tháp Chăm là “đặc sản văn
hóa” của xứ Nẫu. Ảnh: Tháp Nhạn – Quy Nhơn Go
Dân Nẫu đi đến đâu cũng
là “dân nhà quê”, học hành đến mấy vẫn không trút được cái gốc “nẫu” của mình.
Nẫu không khôn ngoan, khéo léo như người Bắc. Nẫu không dịu dàng, lịch lãm như
người xứ Huế. Nẫu cũng chẳng rộng rãi, vô tư như người Nam. Nẫu là Nẫu. “Nẫu dzẫy”
(nậu vậy), Dân Nẫu không quan tâm người khác nghĩ gì về mình, tốt xấu gì cũng mặc,
“kệ nẫu”. Cho nên dân Nẫu đi xứ khác làm ăn bị thiệt thòi nhiều, ít bạn, nhưng
nếu có bạn, nẫu sẽ sống chết với bạn….
Về thăm xứ Nẫu thân
thương để khám phá nét đẹp trong văn hóa, tâm hồn con người Bình Định, Phú Yên.
Một xứ Nẫu thân thiện, mến khách và rất đỗi nhiệt tình. Hãy khám phá
xứ Nẫu để cảm nhận thêm giá trị tinh hoa của một vùng đất thú vị.
Theo
Quy Nhơn Tourist tổng hợp
“Bông lúa chín là bông lúa cúi đầu.”
Hồi nhỏ nghe câu này, mình cứ nghĩ đơn giản là… lúa nặng hạt thì nó cúi xuống thôi.
Lớn lên rồi mới hiểu, đó không chỉ là chuyện của cánh đồng.
Có những người càng biết nhiều lại càng nói ít.
Càng trưởng thành lại càng nhẹ nhàng với người khác.
Họ không cần phải hơn thua trong từng câu nói.
Không cần chứng minh mình giỏi hơn ai.
Cũng chẳng vội vàng phán xét hay áp đặt.
Giống như bông lúa kia…
khi đã đầy hạt, nó chọn cúi xuống — không phải vì yếu, mà vì đã đủ.
Còn những bông lúa chưa chín, lại thường đứng thẳng.
Như cách nhiều người khi còn nông nổi, dễ tự cao, dễ hơn thua,
dễ nghĩ mình đã hiểu hết mọi thứ.
Trưởng thành không phải là trở nên giỏi hơn người khác…
mà là học cách dịu lại, khi mình đã đủ đầy bên trong.
Như bông lúa chín — lặng lẽ cúi đầu giữa cánh đồng,
nhưng lại là thứ quý giá nhất.
VÌ SAO BÌNH ĐỊNH ĐƯỢC GỌI
LÀ XỨ NẪU
Bình Định – Phú Yên
là 2 tỉnh thuộc Duyên Hải Miền Trung và khí hậu nắng gió khắc nghiệt vào mùa Hè,
mưa lũ vào mùa Đông. Và người dân xứ này được gọi là xứ Nẫu.
Vậy, Nẫu có nghĩa là gì? Tại sao người ta lại gọi vùng đất này
là xứ Nẫu?
Với thời Chúa Nguyễn, Bình
Định – Phú Yên là 2 vùng đất Duyên Hải, và trong buổi đầu khai phá, các vùng đàng
trong đã đặt ra các đơn vị hành chánh mới như: Phường – Nậu – Man. Phường – Nậu
– Man là đơn vị hành chính nhỏ hơn thôn:
Nậu
là tập hợp một nhóm người cùng chung một ngành nghề như: Nậu Nguồn là những
người khai thác lâm sản
“Ai về nhắn với Nậu Nguồn,
Mít non gửi xuống, cá chuồn
gửi lên”
Nậu Rớ
là những người đánh bắt cá bằng rớ.
Nậu Rỗi
là những người buôn bán cá.
Nậu Nại
là những người làm muối.
“Nậu
Nại dại lắm ai ơi,
Trời
nắng không ngớt lại phơi ra đồng”
Đầu Nậu
là những người đứng đầu một nhóm cùng ngành nghề.
Từ chữ “Nậu” ban đầu phương
ngữ Phú Yên – Bình Định tính lược đại từ danh xưng ngôi thứ 3, cả số ít và số
nhiều bằng cách thêm “dấu hỏi” vào từ gốc.
Ví dụ: ông
ấy, bà ấy được thay bằng “ổng”, “bả”.
Anh ấy, chị ấy được thay
bằng “ảnh”, “chỉ”.
Và thế là “Nậu” được thay
bằng “nẩu”, đặc trưng ngữ âm của vùng Nam Trung Bộ Bình Định – Phú Yên không phân
biệt được rạch ròi phát âm “dấu hỏi” và “dấu ngã”, cho nên “nẫu” hay “nẩu” đều
như nhau. Khi xóm làng được thiết lập vững chắc thì các đơn vị như “Nậu - Man”
không còn tồn tại là chữ “Nậu” chỉ còn có nghĩa là bọn họ, người ta hoặc là nhóm
ấy.
“Thương
chi cho uổng tấm tình.
Nẫu
về xứ nẫu bỏ mình bơ vơ”
Theo "Tuổi Trẻ Bình Định"
LỜI
DẪN RƯỚC KIỆU KHAI MẠC THÁNG HOA 2026
GIÁO
XỨ BẢO THỊ
LỜI DẪN MỞ ĐẦU
Kính thưa cộng đoàn, tháng Năm – tháng Hoa kính Đức Mẹ,
tháng của yêu thương và dâng hiến, chúng ta cùng quy tụ nơi đây trong bầu khí
linh thiêng và sốt sắng, để hướng lòng về Đức Maria – Người Mẹ hiền của mỗi người
chúng ta. Mẹ là Đấng đã luôn âm thầm đồng hành với Hội Thánh qua mọi thời đại,
là nguồn ủi an cho những tâm hồn đang khát khao bình an và hy vọng. Giờ đây,
chúng ta cùng dâng lên Mẹ tất cả tâm tình yêu mến, tín thác và cậy trông. Xin Mẹ
đón nhận những lời ca tiếng hát, những hy sinh nhỏ bé, và cả những thao thức
trong lòng mỗi người. Nguyện xin Mẹ hiện diện, chúc lành và dẫn dắt cộng đoàn giáo
xứ chúng ta luôn bước đi trong ánh sáng của Chúa.
-
Ban tây nhạc
1. LỜI DẪN 1:
Mẹ Maria – Đấng đầy ơn phúc. Mẹ tràn đầy ân sủng
Thiên Chúa. Nơi Mẹ, mọi vẻ đẹp của ơn gọi làm người được nâng lên trong ánh
sáng của tình yêu Thiên Chúa. Tiếng “xin vâng” của Mẹ trở thành đỉnh cao của
lòng tín thác và sự đáp trả trọn vẹn. Mẹ rạng ngời trong sự khiêm nhường, để ân
sủng Thiên Chúa được tự do hoạt động nơi cuộc đời mình. Nơi Mẹ, chúng con được chiêm
ngắm một tâm hồn hoàn toàn thuộc về Chúa. Ân phúc nơi Mẹ không giữ lại cho
riêng mình, nhưng tỏa lan như ánh sáng dịu hiền giữa thế gian. Chính cuộc đời Mẹ
trở thành dấu chỉ sống động của ân sủng tuôn trào và luôn phản chiếu tình yêu
và sự hiện diện của Thiên Chúa giữa lòng nhân loại.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy chúng con biết can đảm nói lời
“xin vâng” trong từng hoàn cảnh. Xin cho chúng con biết sống đẹp lòng Chúa qua
những việc nhỏ bé hằng ngày. Xin Mẹ đoái thương nhìn đến giáo xứ chúng con đang
sống giữa bao thử thách của thời đại. Xin cho mọi gia đình biết yêu thương, hiệp
nhất và trung thành trong đời sống đức tin. Xin cho mỗi người trong giáo xứ
chúng con luôn biết lắng nghe, thực hành Lời Chúa và xin cho mỗi người trở nên
dấu chỉ sống động của tình yêu Thiên Chúa.
-
Ca đoàn hát
2. LỜI DẪN 2
Mẹ Maria – Ngôi sao đưa đường dẫn lối. Mẹ chiếu tỏa ánh
sáng dịu hiền, soi sáng những đêm tối và những bước chân còn chao đảo. Nơi Mẹ,
niềm hy vọng luôn bừng sáng, đưa chúng con trở về với nguồn bình an của Chúa. Giữa
những ngã rẽ của cuộc đời, Mẹ vẫn âm thầm hiện diện như một ánh sao không bao
giờ tắt. Mẹ dẫn đưa con người đến gần Chúa Giêsu – nguồn mạch của tình yêu và sự
sống. Ánh sáng của Mẹ không rực rỡ ồn ào, nhưng nhẹ nhàng mà bền bỉ, đủ để soi
lối cho những tâm hồn đang kiếm tìm. Trong Mẹ, chúng con tìm lại được hướng đi
giữa bao chọn lựa và những lạc lối của cuộc đời. Mẹ trở thành dấu chỉ của niềm
tin vững vàng, luôn dẫn dắt chúng con bước đi trong ánh sáng và sự thật.
Lạy Mẹ Maria, xin thương nhìn đến giáo xứ chúng con. Xin
Mẹ thương gìn giữ giáo xứ chúng con luôn vững vàng trong đức tin. Xin nâng đỡ
những ai đang chao đảo, nghi nan hoặc nguội lạnh. Xin quy tụ mọi thành phần
trong giáo xứ nên một trong tình yêu thương. Và xin cho mỗi người trong giáo xứ
chúng con luôn là ánh sáng cho những người sống chung quanh.
-
Ca đoàn hát
3. LỜI DẪN 3
Mẹ Maria – Người Mẹ của lòng xót thương. Dưới chân Thập
Giá, Mẹ đã âm thầm hiệp thông trọn vẹn với đau khổ của Con mình bằng một tình
yêu kiên vững và sâu thẳm. Nơi Mẹ, nỗi đau không còn là tuyệt vọng, nhưng trở
thành nguồn suối của lòng cảm thông và yêu thương. Từ Thập Giá, Mẹ trở nên Mẹ của
toàn thể nhân loại, một người Mẹ luôn thấu hiểu và gần gũi với từng phận người.
Trái tim Mẹ dịu dàng ôm lấy những yếu đuối và vết thương của con người bằng sự
ân cần không mỏi mệt. Trong Mẹ, tình yêu luôn bền bỉ, âm thầm nâng đỡ và chở
che qua mọi thử thách của cuộc đời. Mẹ tỏa sáng như dấu chỉ sống động của lòng
thương xót Thiên Chúa giữa thế gian. Nơi Mẹ, tình yêu luôn mở ra, dịu dàng ôm
trọn mọi phận người trong lòng xót thương vô biên.
Lạy Mẹ Maria, xin cầu bầu cho giáo xứ chúng con. Xin
nâng đỡ những người đau khổ, bệnh tật và đang gặp thử thách. Xin Mẹ an ủi và chữa
lành những tâm hồn đang tổn thương. Xin ban cho họ sức mạnh, niềm hy vọng và
lòng cậy trông vào Chúa. Xin cho mọi người qua Mẹ tìm được niềm an ủi và sức mạnh nơi Chúa. Và xin cho mỗi
người trong giáo xứ chúng con biết sống cảm thông, chia sẻ và nâng đỡ lẫn nhau.
-
Ban tây nhạc
4. LỜI DẪN 4
Mẹ Maria – Nữ Vương Hòa Bình. Mẹ luôn đem đến sự
hiệp nhất và yêu thương cho nhân loại. Giữa một thế giới còn nhiều chia rẽ và bất
an, Mẹ là nguồn bình an đích thực và là nhịp cầu nối kết yêu thương. Mẹ dạy
chúng con biết sống hiền hòa, khiêm nhường và tha thứ. Mẹ rạng ngời như dấu chỉ
của tình yêu Thiên Chúa giữa lòng nhân loại. Nơi Mẹ, vẻ đẹp của sự hiền dịu và
bình an luôn tỏa sáng, dẫn đưa con người về nguồn yêu thương đích thật.
Lạy Mẹ Maria, xin ban bình an cho giáo xứ chúng con. Xin
xóa bỏ những chia rẽ và hàn gắn những vết thương trong cộng đoàn. Xin cho mọi
người biết sống hiệp nhất trong cùng một đức tin và một tình mến. Xin cho mọi
người biết sống yêu thương, phục vụ và mở lòng đón nhận nhau. Và xin cho giáo xứ
chúng con trở nên dấu chỉ sống động của tình hiệp nhất và bình an của Chúa. Để
qua đời sống của chúng con, tình yêu Chúa được lan tỏa khắp nơi.
-
Ca đoàn hát
5. LỜI DẪN 5
Mẹ Maria – Mẫu gương của người môn đệ thừa
sai.
Mẹ đã mau mắn lên đường đem Chúa đến cho bà Êlisabét bằng tình yêu chân thành. Mẹ
dạy chúng con biết ra khỏi chính mình để đem niềm vui Tin Mừng đến cho người
khác. Mẹ chính là hình ảnh đẹp nhất của một đời sống trao ban, luôn mang Chúa đến
cho con người bằng chính sự hiện diện đầy yêu thương của mình. Nơi Mẹ, chúng
con học được tinh thần dấn thân và quảng đại phục vụ. Chúng con được mời gọi
không giữ Chúa cho riêng mình, nhưng đem Chúa đến cho mọi người.
Lạy Mẹ Maria, xin chuyển cầu cho giáo xứ chúng con. Xin
Mẹ khơi lên trong chúng con lòng nhiệt thành loan báo Tin Mừng. Xin cho giáo xứ
chúng con trở thành một cộng đoàn sống động và nhiệt thành sống chứng tá bằng đời
sống yêu thương và phục vụ. Xin cho mỗi người trong giáo xứ chúng con luôn biết
ra đi với niềm vui và lòng tin tưởng, biết trở nên chứng nhân của tình yêu Chúa
giữa đời thường. Và biết sống sứ mạng của mình với lòng hăng say và quảng đại.
-
Ban tây nhạc
Tâm
tình sau ngày
THỨ
NĂM TRONG TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH 09/04/2026
(NGÀY CỘNG ĐOÀN ĐA MINH TÂN AN – BÌNH ĐỊNH
chính thức có
CHÚA GIÊSU THÁNH THỂ HIỆN
DIỆN)
CÚI XUỐNG VÀ CÙNG ĐI
“Chúa cúi xuống, đến bên con người, cho ta
nghe, nhịp vỗ yêu thương, cho ta nghe tình yêu thôi thúc, đây chân lý, vẫy gọi
người ơi”. [Bài hát Lời Chúa của nhạc sĩ Thế Thông]
Con cứ suy nghĩ mãi, tại sao Chúa từ nơi thiên cung
cao sang, quyền quý mà lại có thể cúi xuống trần gian đầy rối ren, phức tạp, lắm
hiểm họa, đầy tai ương để sống nhập với con người hèn kém, bất toàn như vậy?
Cha bắt chước Chúa phải ko nhỉ? Tại sao Cha lại thương
chúng con đến thế, không quản ngại những vất vả, khó khăn, gian khổ, đường xá
xôi đầy nguy hiểm mà cúi xuống, hiện diện với chị em chúng con. Có mơ, con cũng
ko dám mơ đến bối cảnh này. Trong bối cảnh, các môn đệ đã quá thất vọng, quá buồn
sầu rồi vì theo ông Giêsu, mà ổng chết rồi… tuyệt vọng, buông xuôi, ấy thế mà
nào có ngờ: Vậy là Chúa đã nhậm lời con cầu xin, từ khi nhận bài sai đến vùng đất
này, từng bước, từng bước một, một chút, chút xíu xiu.. thế là Chúa gửi Cha đến
với chúng con để thành toàn lời cầu xin… Nhiều lúc ngẫm lại, con thấy là Chúa
chiều con ghê cơ, hễ cứ xin gì là được đó… Nhiều khi Chúa chỉ chờ con cầu xin
thôi đó, còn việc của Ngài là ban ơn… ĐÓ LÀ Ý CHÚA – CHIỀU THEO CHÚA – TẠ ƠN
CHÚA… hehe…
Thế mới thấy rằng: vùng đất truyền giáo cần những vị mục
tử nhiệt huyết biết bao, để dám nhỏ bé lại, dám khiêm nhường, dám cúi xuống, dám chấp nhận chịu đau thương, chịu dị nghị để đến
với giáo dân chúng con. Chỉ cần hiện diện thôi, là đủ.. như bài giảng của Cha
ngày hôm nay: uhm thì rao giảng bằng cách truyền thông, mạng xã hội, share
video, picture, bla bla bla… cho dù vẫn còn đó những giới hạn.
Thời đại bây giờ hiếm có ai như Chúa Giê-su lắm, vậy
thì Cha là Linh mục hiếm có khó tìm là đây.
Con xin tạ ơn Chúa, và cảm ơn Cha vì nghĩa cử yêu
thương và thật cao đẹp như Chúa đã cúi xuống để hiện diện, để đồng hành và cùng
bước đi “Chúng tôi cùng đi với anh” (Ga 21, 3) [Bài Tin Mừng của ngày
mai Thứ Sáu trong Tuần Bát Nhật Phục sinh mà chúng con vừa suy niệm trong giờ
Kinh Chiều]. Nguyện xin Chúa Phục sinh ban cho Cha sức khỏe, niềm vui, bình
an, lòng hăng say Loan Báo Tin Mừng để cùng bước đi với chúng con trên đường về
quê trời.
Cha con mình cùng nhớ đến nhau trong lời cầu
nguyện Cha nhé…
Nữ
tu Têrêsa Nguyễn Kiều Diễm O.P (T.A)
p/s:
Giờ Kinh Chiều - Chút tâm tình Suy niệm về Tin Mừng ngày mai Thứ Sáu trong tuần
Bát Nhật Phục sinh – TM Ga 21, 1-14
CÁC BÀI HÁT SINH HOẠT
JESUS LOVE ME
1. Jesus
loves me, this I know
For the Bible tells me so
Little ones to Him belong
They are weak, but He is
strong
ĐK: Yes,
Jesus loves me
Yes, Jesus loves me
Yes, Jesus loves me
The Bible tells me so
2. Jesus
loves me, He who died
Heaven's gate to open
wide
He will wash away my sin
NGƯỜI TÔI YÊU TÔI THƯƠNG
1. Bên
trái tôi là người tôi yêu, tôi thương.
Bên phải tôi là người tôi
yêu, tôi thương.
Trước mặt tôi là người
tôi yêu, tôi thương.
Chung quanh tôi là người
tôi yêu tôi thương.
ĐK: Người
tôi yêu tôi thương đang ngồi bên trái của tôi.
Người tôi yêu tôi thương,
đang ngồi bên phải của tôi.
Người tôi yêu tôi thương
đang ngồi trước mặt tôi đó.
Người tôi yêu tôi thương
đang ngồi chung quanh tôi đây.
THƯA CHÚA, CON YÊU NGÀI
Thưa Chúa, con yêu Ngài
thật đậm sâu trong tâm trí.
Thưa Chúa, con yêu Ngài,
thật đậm sâu trong trái tim.
Rất thâm sâu, sâu, sâu thật
đậm sâu trong tâm trí.
Rất thâm sâu, sâu, sâu thật
đậm sâu trong trái tim.
CẢM ƠN NGƯỜI
1. Cảm
ơn Người vì ngày hôm nay đây chúng con quây quần đang có nhau. Biết bao hạnh
phúc sớt chia cuộc sống, mến thương nhau đây trọn tình thân.
2. Cảm
ơn từng lần ngồi cạnh nhau đây, hát cho nhau bài ca dễ thương. Cám ơn mọi lúc
sướng vui và lúc đã cho nhau kỷ niệm sầu đau.
3. Cảm ơn Người vì một tình thân thương, biết hăng say đẹp lợi ích
chung. Cảm ơn được đến với nhau cùng hát, chúc khen Người muôn vạn lời ca.
4. Cảm
ơn Người vì được gần nhau đây, thấy nhau xinh đẹp như ước mơ. Cảm ơn được khóc
với nhau từng lúc, ngóng trông nhiều, mong gặp lại nhau.
5. Hãy
yêu nhiều vì ngày hôm nay đây chúng ta đang còn trông thấy nhau. Hãy yêu nhiều
nữa, cách xa còn nhớ chúc nhau trọn nguyện ước an lành.
1.
Thank you, Lord for friends to cherish, for each person gathered here. With
delight we 've known each other as your spirit draws us near ...Member, God
will bless our dreams and hopes
2.
Thank you, Lord for all the singing, for the joy your love has made, wondrous
moments with each other etching memries that wont fade
3. Thank
you, Lord for your commission to proclaim the word that saves. Bless the
closeness that unites us bidding us to sing your praise.
4.
Thank you, Lord, for this communion and the beauty of such friend. Through we
sorrow at this parting, still we hope to meet again
5.
Step with courage, walk with bold ness, go embrace this world in need. As we
part we will remember, God will bless our dreams and hopes
CHIM ORA
Trong khung trời bao la,
Ta giang cánh bay hiền
hòa.
Không sống trong tháp
ngà,
Và không giận hơn kêu ca.
Dù mây mù giăng lối.
Vẫn mãi chắp cánh bay.
Cất tiếng hót thánh thót,
Vì ta là chim Ora. La la
la.
Họp mặt nơi đây có Cha và có con.
Họp mặt nơi đây có chị và có anh.
Họp mặt nơi đây còn có Chúa chúng
ta.
Người ở với ta cùng hòa lời ca.
Lá la là lá lá la là la là.
MỘT SĨ QUAN
Một sĩ quan, đến xin Chúa chữa con mình.
Chúa bảo ông: Hãy về con ông sống đấy
Vâng lời ngày, ông về không chút do dự.
Con ông sống, niềm tin đã chữa con ông.