Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

BUỒN VUI ĐỜI LINH MỤC

 

BUỒN VUI ĐỜI LINH MỤC

✍Phêrô Nguyễn Đình Nhật Vy

Không ai thuộc về Chúa Giêsu cho bằng các linh mục. Quả thật, linh mục muốn thu được kết quả tốt đẹp trong việc thánh hóa bản thân và nhân loại thì các ngài phải hy sinh, phải chịu rơi xuống và mục nát đi.

Có khi nào chúng ta dành một phút giây nào đó để ngắm nhìn, nghĩ đến các linh mục. Các ngài sống ra sao? Buồn vui ấm lạnh thế nào? Khi đau yếu có ai để ý săn sóc đến hay không? Hay các ngài phải tự chiến đấu với bản thân, với những áp lực từ mọi phía mọi nơi như thế nào? Vâng đúng như vậy, chỉ một mình Chúa biết những hy sinh bên trong và bên ngoài của các ngài, và các ngài chỉ cần Chúa biết là đủ. Thế nhưng, kể ra đây một vài hy sinh của các ngài để mỗi người chúng ta thấy được sự hy sinh của các ngài là cao cả biết dường nào, và cũng để nhắc nhở mỗi người biết dành cho các linh mục một sự kính trọng xứng đáng.

Không chỉ những hy sinh ấy, những hy sinh bên ngoài của linh mục càng lớn lao hơn nhiều. Chúng ta thử nghĩ xem, chưa nói đến các Thánh Lễ trọng trong năm, chỉ để dâng một Thánh Lễ Chúa Nhật, chuẩn bị một bài giảng thì linh mục phải đọc bao nhiêu cuốn sách trau dồi kiến thức để có món ăn tinh thần cho giáo dân, phải soạn bài và chuẩn bị bao lâu? Nhưng có mấy ai biết? Hay giữa đêm mưa gió, mặc dù đang trong giấc ngủ ngon thì các ngài cũng phải bật dậy ngay tức khắc và vội vã lên đường chỉ vì một kẻ liệt đang chờ ngài đến ban các Bí tích sau cùng. Có ai chia sẻ cùng các ngài? Hay các ngài đã không quản khó nhọc chôn mình trong tòa giải tội hàng giờ để ban Bí Tích giao hòa các tội nhân với Thiên Chúa. Hy sinh vi chúng ta như thế, nhưng khi các ngài phải đối diện với những khó khăn trong đời sống ơn gọi hay những đau khổ vì bệnh tật, thì những lúc đó linh mục chỉ âm thầm thổn thức một mình. Thử nhìn vào một tuần làm việc của các linh mục, mỗi ngày các ngài đều phải cử hành các Bí Tích và lo các việc phụng vụ. Ngay cả ngày Chúa Nhật, khi mỗi người sum họp với gia đình để nghỉ ngơi sau một tuần làm việc thì các ngài phải bận rộn với biết bao nhiêu công việc. Ngoài giờ phụng vụ, các ngài còn phải lo bao nhiêu việc trong giáo xứ, ấy vậy mà mỗi khi có người chạy đến cùng các ngài cũng đều được đón tiếp với tất cả tình thương và lòng trìu mến của một người cha nhân từ. Thế nhưng có khi nào chúng ta nhớ đến các linh mục đã đi qua trong đời mình? Có khi nào chúng ta nhớ những bàn tay đã từng ban các Bí Tích, những lời an ủi khi chúng ta gặp khó khăn, các ngài giờ này đang ở đâu? Ra sao? Co khi nào chúng ta thao thức hay nhớ đến các linh mục già yếu đang sống trong các nhà dưỡng lão tại quê nhà, các Ngài sống ra sao vui buồn ấm lạnh thế nào? Có bao giờ chúng ta nhớ đến và cầu nguyện cho các Ngài? Quả thật, không những chỉ hy sinh bên trong tâm hồn để từ bỏ chính mình mà các linh mục của Chúa cũng đã hy sinh rất nhiều trong đời sống vật chất để trở nên giống Chúa Giêsu và là linh mục yêu quý của Chúa.

Như vậy, cuộc sống của linh mục là một chuỗi ngày dài hy sinh, và hiến thân phụng sự Thiên Chúa trong việc chu toàn nhiệm vụ được trao phó. Chính vì thế nên chính các tín hữu phải nhận lấy trách nhíệm lo cho các ngài được những điều cần thiết hầu bảo đảm cho các ngài một mức sống đầy đủ và xứng đáng, vì các ngài cống hiến hoạt động của mình để phục vụ. Cả cuộc đời các ngài đã hy sinh để phục vụ cho chúng ta, để dẫn đưa các linh hồn về với Thiên Chúa tình yêu. Vậy nên các ngài được “nâng lên” giữa muôn người là lẽ đương nhiên. Chắc hẳn chúng ta ai cũng dễ dàng nhận thấy các linh mục được trân trọng và quý mến như thế nào giữa mọi người. Có lẽ đây chính là món quà mà Thiên Chúa ban tặng cho các ngài để bù đắp cho sự hy sinh quên mình của các ngài. Như Chúa Giêsu đã phán: “ ai nâng mình lên thì sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống thì sẽ được nâng lên.”thì giờ đây, các linh mục của Chúa cũng được mọi người nâng lên giữa họ để bù lại sự khiêm hạ quên mình phục vụ mọi người. Trong cuộc sống, các ngài cũng luôn nhận được những quà biếu là những của ngon vật lạ mà đôi khi trong đời các ngài chưa từng được thấy. Hay chỗ ở của các ngài luôn được đảm bảo khang trang và sạch sẽ. Đó có lẽ là những ưu tiên mà Thiên Chúa muốn dành cho các linh mục để gìn giữ và nâng đỡ các ngài. Nhưng có lẽ ưu tiên lớn nhất mà Thiên Chúa ban cho các linh mục chính là việc các ngài được xức dầu thánh hiến cho Chúa cách đặc biệt, và các ngài được nhận Chúa là phần gia nghiệp đời đời của mình.

Nhờ tự ý khiêm nhượng và vâng phục mà các Linh Mục nên giống Chúa Kitô và có những cảm thức như Chúa Giêsu Kitô. Các ngài được mời gọi tình nguyện sống nghèo khó để nên giống Chúa Kitô một cách rõ ràng hơn và tận tụy hơn với chức vụ thánh của mình. Bằng đời sống thánh thiện và chuyên chăm cầu nguyện, các linh mục đã hy sinh hết mình để nên xứng đáng là linh mục của Chúa và phục vụ dân Người. Và để được như vậy, các linh mục đã phải trải qua cuộc chiến “quên mình” đầy cam go thử thách. Các ngài phải chiến đấu gian khổ và cũng phải chịu đóng đinh cùng với Chúa Kitô để được trở nên trọn hảo mà dẫn dắt đàn chiên Chúa trao phó về nhà Cha an toàn. Hiểu được những hy sinh lớn lao của các linh mục như vậy, mỗi người giáo dân chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban cho nhân loại thiên chức linh mục cao cả, và cũng xin ơn cho các linh mục để các ngài luôn thắng vượt mọi cám dỗ mà thi hành tác vụ thánh của mình cách trọn vẹn. Bởi vì các linh mục cũng là con người như chúng ta nên cần được chúng ta cầu nguyện, nâng đỡ thông cảm để linh mục cảm thấy cuộc đời tận hiến của mình có ý nghĩa.

 

NHÀ THỜ NHÀ ĐÁ (TRUÔNG DỐC / TRƯỜNG DỐC) – DI TÍCH LỊCH SỬ CÔNG GIÁO Ở PHÙ MỸ, BÌNH ĐỊNH

NHÀ THỜ NHÀ ĐÁ (TRUÔNG DỐC / TRƯỜNG DỐC) –

DI TÍCH LỊCH SỬ CÔNG GIÁO Ở PHÙ MỸ, BÌNH ĐỊNH





Di tích Nhà thờ Nhà Đá (tên cũ: Nhà thờ Truông Dốc, nay thuộc Giáo xứ Trường Dốc cũ) tại thôn Đại Thuận, xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Đây là một trong những ngôi thánh đường Công giáo cổ kính và bi tráng nhất miền Trung, nay đã trở thành phế tích hoang phế giữa rừng cây um tùm, nhưng vẫn toát lên vẻ hùng vĩ Gothic với những vòm cuốn gạch đỏ, tháp chuông cao vút có Thánh Giá, cửa sổ hoa hồng (rose window) và hệ thống cột bê tông kiên cố còn sót lại sau nhiều lần trùng tu.

Lịch sử hình thành và truyền giáo

Giáo xứ Truông Dốc (sau đổi tên Nhà Đá) đón nhận Tin Mừng từ giữa thế kỷ XVIII. Năm 1747, các thừa sai Dòng Phanxicô đã ghi nhận giáo điểm Mương Lỡ (thuộc giáo xứ này) có 80 tín hữu. Đến năm 1850, Truông Dốc có 78 tín hữu, là một trong những giáo điểm đầu tiên của hạt Phù Ly.

Năm 1882, Đức cha Luy Galibert bổ nhiệm linh mục Théodule Joseph Hamon (cố Lựu – người Pháp) làm cha sở. Cha Hamon dời cộng đoàn lên đỉnh dốc (nơi hiện nay) để tránh gió lạnh và bệnh tật.Cha đã mua đất, trồng cây, xây nhà cho người nghèo, mồ côi và mở trường học miễn phí.

BI KỊCH VĂN THÂN 1885 VÀ GIẾNG TỬ ĐẠO – ĐẤT THÁNH

Tháng 8/1885, phong trào Văn Thân bùng nổ, đốt phá các giáo xứ. Cha Hamon dẫn gần 1.000 giáo dân Truông Dốc và các xứ lân cận lánh nạn về Qui Nhơn, rồi Vĩnh Long. Hàng trăm tín hữu bị sát hại dã man.

Khi trở về tháng 8/1887, cha Hamon thu gom hài cốt các vị tử đạo, chôn cất tại Đất Thánh ngay sau nhà thờ – chính là khu nghĩa trang bạn chụp trong ảnh đầu tiên. Tại đây có:

Cột bia mộ tử đạo (trụ tứ giác cao khoảng 2m, đỉnh có Thánh Giá, nền sân vuông) với dòng chữ “PHẦN MỘ BẨY NHIỀU LINH HỒN AN NGHỈ VÌ ĐỨC TIN” và các tấm bia đen khắc chi tiết về các vị chứng nhân đức tin.

Giếng Tử Đạo – giếng nước thiêng nằm trong Đất Thánh, được gọi là “Giếng Tử Đạo” vì truyền thuyết gắn liền với việc thu gom và rửa sạch hài cốt các vị tử đạo trước khi an táng. Đây chính là hình ảnh bạn chụp với dòng chữ đỏ nổi bật “Giếng Tử đạo ở Đất Thánh Gx. Trường Dốc”.

Khu Đất Thánh ngày nay vẫn được một số giáo dân địa phương (như ông Ngô Hồng Khanh) tự nguyện dọn dẹp, coi như “công viên linh thiêng” để tưởng nhớ tổ tiên và các vị tử đạo.

Ngôi thánh đường “vàng son một thuở”

Năm 1889 (lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống – bổn mạng giáo xứ), cha Hamon khánh thành nhà thờ bằng đá ong – một trong những công trình đá đầu tiên của Giáo phận Đông Đàng Trong. Vì vậy mới có tên “Nhà Đá”.

Chuông nhà thờ (bức ảnh thứ hai bạn gửi) là quả chuông đồng đúc năm 1896 tại Pháp, do cha mẹ cha Hamon tặng, cao hơn 1m, khắc Chúa Giêsu trên Thánh Giá, từng vang vọng khắp đồng quê Phù Mỹ. Sau năm 1968, chuông được giấu, lạc mất một thời gian, nay đang trưng bày tại Nhà thờ Chánh tòa Qui Nhơn.

Nhà thờ trải qua nhiều thăng trầm:

1932: Bão Nhâm Thân làm sụp đổ → xây lại bằng gỗ sao năm 1940.

1955: Cháy rụi → Đức cha Marcello Piquet Lợi xây lại bằng bê tông cột kèo, mặt tiền gạch đỏ (đây là phần phế tích bạn chụp trong các ảnh còn lại: tháp chuông, vòm cửa Gothic, mái ngói, khung sắt mái vòm…).

HIỆN TRẠNG VÀ Ý NGHĨA

Từ năm 1965–1975, chiến tranh ác liệt khiến giáo dân phải di tản hàng loạt. Sau 1975, hầu hết không trở về. Nhà thờ và các họ lân cận dần hoang phế. Trung tâm giáo xứ nay chuyển về Nhà thờ Phù Mỹ (cũ là họ Gò Đồng, cách khoảng 6 km).

Ngày nay, Nhà thờ Nhà Đá là di tích sống động của đức tin và lịch sử bách hại ở Bình Định. Những bức tường gạch đỏ rêu phong, tháp chuông cô đơn giữa trời xanh, Giếng Tử Đạo và bia mộ tử đạo trong Đất Thánh… tất cả đều kể một câu chuyện bi hùng: từ những hạt giống đức tin đầu tiên thế kỷ XVIII, qua lửa máu Văn Thân 1885, đến sự huy hoàng của ngôi thánh đường đá ong, rồi đến sự lặng lẽ nhưng vẫn trường tồn của niềm tin Công giáo Việt Nam.

Nếu bạn đến thăm, hãy ghé Đất Thánh trước, cúi đầu trước Giếng Tử Đạo và bia mộ, rồi lang thang giữa phế tích nhà thờ – nơi chuông đồng từng ngân vang, Thánh Giá vẫn hiên ngang trên đỉnh tháp, như lời nhắc nhở rằng “đức tin đã thắng vượt sự chết”.

Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

PS :

CHA THÉODULE JOSEPH HAMON (CỐ LỰU) – VỊ LINH MỤC TIÊN PHONG TẠI TRUÔNG DỐC

Cha Théodule Joseph Hamon, thường được gọi là cố Lựu, là một linh mục người Pháp thuộc Hội Thừa Sai Paris (M.E.P.), sinh năm 1848 tại vùng Bretagne, Pháp. Ông được đào tạo tại chủng viện và thụ phong linh mục vào năm 1874, trước khi được cử đến Việt Nam để phục vụ trong Giáo phận Đông Đàng Trong (nay là Giáo phận Qui Nhơn). Cha Hamon nổi tiếng với tinh thần hy sinh, bác ái và khả năng lãnh đạo cộng đoàn qua những thời kỳ khó khăn nhất, đặc biệt tại giáo xứ Truông Dốc (sau gọi là Nhà Đá) thuộc Phù Mỹ, Bình Định.

BỔ NHIỆM VÀ XÂY DỰNG CỘNG ĐOÀN

Tháng 3 năm 1882, Đức cha Luy Galibert – Giám mục Giáo phận Qui Nhơn – bổ nhiệm cha Hamon làm cha sở giáo xứ Truông Dốc, một giáo điểm đã tồn tại từ giữa thế kỷ XVIII với khoảng 78 tín hữu vào năm 1850. Lúc bấy giờ, cộng đoàn sống ở chân đồi phía Bắc dãy núi, nơi gió lạnh và bệnh tật hoành hành, đặc biệt vào mùa đông. Nhận thấy điều này, đầu năm 1883, cha Hamon quyết định di dời toàn bộ cộng đoàn lên đỉnh đồi để có vị trí ổn định hơn, tránh gió lùa và dễ dàng phát triển.

Không chỉ dừng lại ở việc di dời, cha Hamon còn tích cực xây dựng cộng đoàn. Cha mua đất, trồng cây ăn quả, xây dựng nhà cửa cho người nghèo và trẻ mồ côi, đồng thời mở trường học miễn phí để giáo dục con em giáo dân. Những nỗ lực này biến Truông Dốc thành một trung tâm Công giáo vững mạnh, nơi đức tin được nuôi dưỡng qua đời sống cộng đồng và bác ái. Cha Hamon sống giản dị, gần gũi với giáo dân, và được họ kính trọng như một người cha tinh thần.

BI KỊCH PHONG TRÀO VĂN THÂN (SÁT TẢ) NĂM 1885

Năm 1885 đánh dấu một chương bi thảm trong lịch sử Truông Dốc khi phong trào Văn Thân (hay Sát Tả – "giết tả đạo", tức Kitô giáo) bùng nổ dưới sự hậu thuẫn của triều đình Huế, nhắm vào các cộng đoàn Công giáo. Ngày 1 tháng 8 năm 1885, nhận tin dữ về các cuộc tấn công ở các giáo xứ lân cận, cha Hamon nhanh chóng viết thư khẩn cấp gửi linh mục Auguste Macé (cố Sĩ) tại chủng viện Nước Nhỉ, kêu gọi Cha và giáo dân chạy trốn vào Truông Dốc, sau đó tiếp tục đến Làng Sông và Qui Nhơn để lánh nạn.

Dưới sự lãnh đạo của cha Hamon, gần 1.000 giáo dân từ Truông Dốc và các xứ lân cận được tổ chức di tản ban ngày dọc theo con đường chính, tránh rừng núi nguy hiểm. Họ thành công đến được Qui Nhơn, nơi phải sống trong cảnh thiếu thốn: ở lều tạm, nhà kho, và sống nhờ quyên góp từ các nguồn khác. Tuy nhiên, nhiều giáo dân khác không may mắn; hàng trăm người bị Văn Thân sát hại dã man, các nhà thờ bị đốt phá. Truông Dốc trở thành điểm trú ẩn tạm thời cho nhiều người, nhưng bản thân giáo xứ cũng chịu tổn thất nặng nề. Sau đó, cha Hamon dẫn đoàn người tiếp tục đến Vĩnh Long để tránh nạn hoàn toàn.

Trở Về, Tái Thiết Và Xây Dựng Nhà Thờ

Tháng 7 năm 1887, khi phong trào Văn Thân kết thúc, cha Hamon trở về Truông Dốc cùng với giáo dân từ Vĩnh Long. Cảnh tượng hoang tàn khiến ông đau lòng: hài cốt các vị tử đạo nằm rải rác. Cha Hamon tổ chức thu gom và chôn cất họ tại khu vực Đất Thánh hiện nay – một nghĩa trang thiêng liêng với cột bia mộ cao 2m, có Thánh Giá trên đỉnh và sân vuông bằng đất. Nơi đây trở thành biểu tượng của đức tin và sự hy sinh, với giếng nước (Giếng Tử Đạo) được dùng để rửa sạch hài cốt trước khi an táng.

Sau khi ổn định, cha Hamon cùng giáo dân lập kế hoạch xây dựng nhà thờ. Năm 1889, nhân lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (bổn mạng giáo xứ), ngôi thánh đường bằng đá ong (đá địa phương) được khánh thành – một trong những công trình đá đầu tiên của Giáo phận. Tên "Nhà Đá" bắt nguồn từ đây. Năm 1896, cha mẹ cha Hamon gửi tặng quả chuông đồng đúc tại Pháp, cao hơn 1m, khắc hình Chúa Giêsu trên Thánh Giá, trở thành biểu tượng âm thanh của đức tin vang vọng khắp vùng Phù Mỹ.

DI SẢN VÀ NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI

Cha Hamon tiếp tục phục vụ tại Truông Dốc đến năm 1910, khi Cha qua đời ở tuổi 62 tại Qui Nhơn do bệnh tật. Di sản của Cha không chỉ là ngôi nhà thờ mà còn là tinh thần kiên cường của cộng đoàn. Nhà thờ Nhà Đá trải qua nhiều lần hư hại (bão 1932, cháy 1955, chiến tranh 1965-1975), nhưng nền móng do cha Hamon đặt vẫn là nguồn cảm hứng. Ngày nay, chuông đồng của Cha được trưng bày tại Nhà thờ Chánh tòa Qui Nhơn, và Đất Thánh vẫn được giáo dân địa phương như ông Ngô Hồng Khanh chăm sóc, biến nơi đây thành "công viên linh thiêng" để tưởng nhớ các vị tử đạo và vị linh mục đã hy sinh cả đời cho đức tin.

Câu chuyện cha Hamon là minh chứng sống động cho sứ mệnh truyền giáo: từ một vị thừa sai xa xứ, ông trở thành người cha, người thầy và người bảo vệ cho hàng ngàn linh hồn giữa lửa đạn bách hại.

 


Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

BÀI CÁM ƠN LỄ KHẤN Ngày 7/8/2024

 

BÀI CÁM ƠN LỄ KHẤN

Ngày 7/8/2024



Trọng kính Đức Cha chủ tế, quý cha, quý Bề trên, quý tu sĩ nam nữ và cộng đoàn phụng vụ / con đại diện cho gia đình quý Dì mừng Kim khánh, Ngân khánh và các khấn sinh hôm nay, được bày tỏ tâm tình tạ ơn Thiên Chúa và tri ân quý dì trong Hội dòng Nữ Đa Minh Gò Vấp.

Chúng con xin dâng lời tạ ơn Thiên Chúa / vì ơn gọi thánh hiến Chúa ban cho con em của chúng con / chúng con xin cảm ơn sự hiện diện đầy yêu thương của Đức Cha Phụ tá, quý cha cùng cộng đoàn.

Chúng con xin gửi lời tri ân sâu sắc đến dì Bề trên Tổng quyền, quý dì trong Ban Tổng cố vấn, quý Bề trên, quý Dì giáo và toàn thể quý dì trong Hội dòng nữ Đa Minh Gò Vấp. Quý dì là những người đã hy sinh, cầu nguyện, đồng hành, hướng dẫn và chăm sóc cho con em chúng con trên hành trình dâng hiến. Nhờ sự quan tâm và dạy dỗ của quý dì / mà con em chúng con mới có thể an tâm, vững bước trong ơn gọi. Kính xin quý dì tiếp tục nâng đỡ và dìu dắt con em của chúng con để con em của chúng con mãi mãi sống tốt những lời tuyên khấn hôm nay;

Đặc biệt trong dịp tổ chức thánh lễ Tạ ơn hôm nay, quý Dì đã chuẩn bị, thật chu đáo. Gia đình chúng con thật hạnh phúc và an lòng /  khi con em của chúng con được sống đời thánh hiến trong Hội Dòng nữ Đa minh Gò Vấp.

Nguyện xin Thiên Chúa ban bình an, sự khôn ngoan, sức khỏe và niềm vui cho quý dì. Chúng con ước mong và cầu chúc cho Hội dòng ngày một phát triển về mọi phương diện để qua đó danh Chúa được cả sáng.

Chúng con xin kính dâng lên dì Bề trên Tổng quyền và quý dì lãng hoa tươi thắm thể hiện tấm lòng yêu mến và tri ân của chúng con.

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

CÂU LỆNH TẠO ẢNH BẰNG CHAT GPT VÀ GEMINI

 

1.     Câu lệnh làm nét ảnh:

Phục chế và nâng cấp chất lượng hình ảnh. Làm rõ nét chi tiết khuôn mặt, trang phục, nền và biểu tượng. Giữ nguyên phong cách hội họa gốc, màu sắc hài hòa, ánh sáng cân bằng. Tăng độ phân giải lên 8K, giảm nhòe, làm nét nhưng vẫn giữ sự tự nhiên, trang nghiêm và tôn kính của bức tranh.

Trước                                                       Sau

2.     Mở rộng khung hình

Mở rộng hình ảnh thành khổ 16x9. Bổ sung đầy đủ hai bên thân nhân vật bị cắt, giữ nguyên tỷ lệ cơ thể, phục hồi trang phục, tay và các chi tiết liên quan. Giữ nguyên phong cách hội họa gốc, màu sắc hài hòa, ánh sáng cân bằng. Tăng độ phân giải 8K, giữ sự tự nhiên, trang nghiêm và tôn kính của bức tranh.

Trước:                                        Sau

 

 

3.     Khôi phục ảnh

Khôi phục ảnh chân dung cũ, tăng độ sắc nét khuôn mặt, loại bỏ mờ nhòe và vết xước. Giữ nguyên khuôn mặt, thần thái và đặc trưng gốc, nâng cấp độ phân giải 4K, điều chỉnh sáng tối và độ tương phản hài hòa, làm mịn da tự nhiên nhưng vẫn giữ nét chân thực.

Trước                                           Sau         

 

4.     Tạo bối cảnh phù hợp

Giữ nguyên khuôn mặt nhân vật trong hình, Chỉnh thành hình toàn thân, trong bối cảnh phù hợp.

trước                   Sau

 

 

 

          

5.     Chuyển phong cách ảnh

Chuyển đổi bức ảnh này thành phong cách hoạt hình Nhật Bản. Giữ nguyên bố cục, số lượng nhân vật và khung cảnh. Các nhân vật mặc trang phục giống như ảnh gốc nhưng thể hiện theo nét vẽ hoạt hình rõ ràng, tươi sáng, màu sắc hài hòa. Giữ lại thần thái thần thái và đặc trưng gốc.

Trước                                    Sau

 

6.     Tạo ảnh hoạt hình để bé tô màu

Chuyển đổi bức ảnh này thành tranh line art đen trắng để trẻ em tập tô màu. Giữ nguyên bố cục, số lượng nhân vật và khung cảnh nhưng chỉ thể hiện bằng nét vẽ đơn giản, rõ ràng, không có màu sắc, không đổ bóng. Các đường nét cần to, dễ tô, phù hợp cho sách tô màu thiếu nhi.

Trước                                                                                 Sau: