TÔI VÀ CHÚNG
TA LÀM GÌ?
DÀN BÀI.
DẪN NHẬP. (Mc
6,30-34)
I. QUY TỤ
BÊN CHÚA.
II. ĐỂ NHÌN LẠI
CHÍNH MÌNH.
III. ĐỂ LÀM MỚI
CHÍNH MÌNH.
A. LOAN
BÁO ĐỨC KITÔ.
I. SỨ VỤ ĐẾN TỪ CHÚA. (Gr 1,4-5).
I. Thiên Chúa mời gọi.
II.
Thiên Chúa chạm vào.
III. Thiên Chúa sai đi.
II. CÓ CHÚA. Lc
24,13-35.
I. Hành
trình không có Chúa.
II. Chúa
Giêsu tiến đến.
III. VỚI CHÚA. Mt
5,1-12.
I. Thế
nào là người nghèo trong tâm hồn?
II. Đức
Kitô sống nghèo trong tâm hồn.
III. Ai
là người nghèo trong tâm hồn?
IV. Tại
sao phải sống nghèo?
IV. THUỘC VỀ
CHÚA. Mt 5,13-16.
I. Một
danh tính mới
II. Một
ơn gọi mới.
III.
Thái độ xứng với “là muối đất”.
B. LOAN BÁO ĐỨC KITÔ NÀO?
I. CHA NHƯ CHÍNH NGÀI LÀ. 1 V 19, 9a. 11–16.
I. Bối cảnh
II.
Thiên Chúa, Đấng chăm sóc.
III.
Thiên Chúa, Đấng dịu hiền
IV.
Thiên Chúa, Đấng sai đi.
II. QUYỀN NĂNG.
Lc 2,1-14.
I. Thiên
Chúa làm người.
II.
Thiên ở giữa chúng ta.
III. Nhận
biết Chúa.
III. BÌNH AN. Ga 4,5-42.
I. Bất
an.
II. Gặp
gỡ với Đấng Bình An.
III. TÌNH YÊU.
Ga 19,25-27.
I. Thiên
Chúa yêu thế gian.
II. Sống
cho tình yêu
III. Sống
nhờ tình yêu.
IV. Sống
vì tình yêu.
C. LOAN BÁO NHƯ THẾ NÀO?
I. TỪ BỎ.
St 12,1-3. Ơn gọi Abrham.
I. Một lời
mời gọi đến từ Chúa.
II. Từ bỏ
là hành trình.
III. Từ
bỏ là tín thác.
IV. Từ bỏ
là cho người khác.
II. CỞI MỞ. Mt
17,21-26.
I. Lời
kêu gọi suy ngẫm cá nhân
II. Cởi
mở để nhận ra ân ban.
III. Cởi
mở để nhận ra người khác.
II. MẶC LẤY. Luc 15, 1-3.11-32.
I. Mặc lấy
những sai lầm.
II. Mặc
lấy những giá trị đúng.
III. Mặc
lấy.
§ 1. TĨNH TÂM ĐỂ LÀM
GÌ?
(x.Mc 6,30-34)
I. QUY TỤ
BÊN CHÚA.
Trang Tin mừng vừa thuật lại: các Tông đồ cùng tụ họp
chung quanh Đức Giêsu. Chi tiết này gợi lên hai điều, thứ nhất, các Tông đồ
cùng nhau, ở bên nhau, quy tụ với nhau, nhưng điều thứ hai là các ông không chỉ
dừng lại việc gặp nhau, hướng tới nhau, mà tất cả cùng nhau hướng về Chúa
Giêsu. Ghi nhận này mời gọi chúng ta ý thức: giờ đây, chúng ta từ nhiều cộng
đoàn và sứ vụ khác nhau, tất cả cùng nhau quy tụ và mỗi cá nhân hướng tới, gặp
gỡ và thuộc về Chúa Giêsu.
Một sự
nghỉ ngơi trong cộng đoàn với Chúa Giêsu, đó là một ân huệ không thể bỏ lỡ!
Một sự cần
thiết. Thể xác, tâm trí và trái tim đòi hỏi một quyền: nghỉ ngơi, đó là sự giao
tiếp với Thiên Chúa,
Thiên
Chúa đang chờ đợi chúng ta. Và Người chờ đợi chúng ta với những thành công và sự
mệt mỏi của chúng ta.
Lời mời
của Chúa Giêsu “lui vào nơi vắng vẻ” muốn nói rõ với các tông đồ, rằng Người hết
lòng lo lắng cho họ.
Tuy
nhiên, chúng ta hãy tránh nguy hiểm khi hiểu lời mời gọi “lui vào nơi vắng vẻ”
như một lời kêu gọi nhốt mình trong việc tìm đến sự trú ẩn để được thoải mái và
an toàn, để tránh những thách đố của Tin Mừng. Chúng ta đừng bóp méo ý nghĩa của
nơi hoang vắng.
Nhưng đây
sẽ không phải là sự nghỉ ngơi bình thường, một sự thư giãn đơn giản để quên đi
mọi lo lắng và buồn phiền. Đó sẽ là sự nghỉ ngơi cùng Ngài, lắng nghe Ngài và
phó thác mọi sự cho Ngài.
“Lui vào
nơi vắng vẻ” không phải chủ yếu là một nơi chốn. Chúa Giêsu muốn đưa các môn đệ
của mình ra khỏi chủ nghĩa thực dụng vị lợi. Người mong muốn không nhìn thấy họ
bị “ô nhiễm” bởi những vinh quang chóng qua, nhưng được sinh động bởi một đời sống
nội tâm vĩ đại.
II. ĐỂ
NHÌN LẠI CHÍNH MÌNH.
Khi yêu cầu các Tông đồ: “Hãy đến một nơi hoang vắng, và nghỉ ngơi một chút”, trước hết, Chúa
Giêsu thực hiện điều cần cho chính các tông đồ: dành thời gian để tìm lại chính
mình.
Thánh
Marcô kể: các Tông đồ kể lại, thuật lại cho Chúa Giêsu mọi việc họ đã thực hiện
và mọi lời họ đã giảng dạy. Như thế, chính Chúa đang muốn nghe trực tiếp những
gì mà từng người chúng ta đã sống, đã thực hiện và đã giảng dạy trong sứ vụ và
ơn gọi của mình. Những thao thức cũng như những băn khoăn, trăn trở trong việc
sống ơn gọi và sứ vụ cho thời gian sắp tới. Nói cách khác, tôi đã sống đời tu của
mình như thế nào? Tôi đã thực hiện ra sao với sứ vụ Chúa uỷ thác? Tôi đang thao
thức và trăn trở gì cho ơn gọi?
Đồng thời,
Chúa Giêsu không bao giờ hỏi những câu hỏi như: Bạn đã làm gì cho tôi? Bạn có
hài lòng với chính mình không? Chúa Giêsu không quan tâm đến việc các môn đệ đã
làm cách nào để làm Người nổi tiếng. Người không đưa họ sang một bên để đánh
giá công việc của họ. Không, Chúa Giêsu chỉ muốn họ dành thời gian để nếm trải
niềm vui được ở bên Người, niềm vui được sai đi.
Chúng ta
không thể tiếp tục cuộc hành trình mà không "nghỉ ngơi", tức là không
tách mình ra khỏi thế giới đang tấn công chúng ta, vốn nói với chúng ta:
"Đi bên phải, đi bên trái!", tấn công chúng ta ở những thành công, những
ý tưởng và trào lưu thời thượng.
Và chính
chúng ta cũng cần phải nghỉ ngơi để chúng ta khám phá sâu hơn về chính con người
của chúng ta, rằng chúng ta không phải chỉ sống tồn tại ở bề ngoài và nơi vật
chất, mà còn là để mở rộng bản thân mình với những gì thực sự đáng để nỗ lực: với
tất cả những gì đẹp đẽ và đáng yêu, tình bạn, gia đình và nhất là sự sống đời đời.
Đặc biệt, khi các tông đồ nghỉ ngơi theo “hành
động” của Chúa, thì cũng có nghĩa là: sự cần thiết “nghỉ ngơi” về cái tôi, sức
con người của mình và để Thiên Chúa hành động.
Cơn cám
dỗ của Nguyên tổ luôn mãi lập lại trong mọi thế hệ và mọi người: luôn muốn và bắt
Chúa “nghỉ” để ta hành động, ta làm tuy theo sở thích mà bất chấp sở đoản của
chúng ta. Vì thế, thế giới, con người đã phải đón nhận bao hậu quả.
Mỗi
chúng ta thật sự biết tầm quan trọng và biết thực hành kỳ “nghỉ ngơi” này
không?
III. ĐỂ
LÀM MỚI CHÍNH MÌNH.
Sau khi
ghi nhận những báo cáo của các tông đồ, thì phản ứng của Chúa rất lạ: không nhận
xét về những gì các tông đồ vừa báo cáo: tốt hay xấu, hay hoặc dở….Chúa không
có một lời nào để “rút kinh nghiệm”, mà chỉ yêu cầu: chính anh em lánh ra, đến
một nơi thanh vắng để nghỉ ngơi đôi chút. Lời dạy này mời ta ý thức: lánh riêng
là riêng tư, một mình, nghĩa là chính mình nhìn vào sứ vụ, cách sống, những quyết
định, những cách giải quyết,…. Không ai làm thay và cũng không thể thay thế bằng
một việc khác.
Nghỉ
ngơi: không phải là đóng cửa phòng đi ngủ, ngưng mọi việc để relax (muốn đi ngủ
thì đâu cần Chúa nhắc, muốn relax thì phải ở resort). Nhưng nghỉ ngơi mà Chúa
muốn hướng đến đó là làm mới chính mình: xem chỗ nào sai thì sửa, chỗ nào cũ kỹ
thì làm mới (đừng yên trí là tốt và đủ rồi), chỗ nào héo úa, lụi tàn thì phải hồi
sinh. Ý thức mình sẽ cũ, và chỉ có Chúa luôn là mới, vì thế, làm mới chính mình
là gặp Chúa để ta làm mới những quyết định, chọn lựa, những ý định và khao khát
(bởi nhiều lúc ta như Thánh Giuse có những ý định tốt: lìa bỏ và không tố giác
Mẹ, nhưng ý Chúa thì mới hơn và giá trị hơn).
Chúng ta
đừng quên một điều cơ bản: cũng như các tông đồ, trong “kỳ nghỉ”, đã không tách
mình ra khỏi Chúa Giêsu, nhưng họ ở gần Người, thì chúng ta cũng hãy cố gắng biến
đổi thời gian “thư giãn” của mình trong kết hợp thân tình với Chúa. Cần phải học
để biết cách làm mình mạnh mẽ lại với Chúa Giêsu.
Làm mới
là chăm sóc sức khoẻ tâm linh nhằm phát hiện sớm mầm mống “ung thư tâm linh”
đang tiềm ẩn trong từng suy nghĩ, lời nói, hành vi, chọn lựa và quyết định của
mình, nhờ đó tránh xảy ra những cơn “đột quỵ” gây chết người ta cũng như chính
mình.
Bên cạnh
đó, tin mừng cho ta thấy: “Một chút” so với liền sau đó “một đám đông dân chúng”,
là cho dẫu vài ngày bên Chúa trong kỳ tĩnh tâm, vài giờ sốt sắng trong ngày
tĩnh tâm, đó là “một chút” quan trọng và cần thiết trước “một đám đông” công việc,
sứ vụ của những ngày tháng sắp tới. “Một chút” sẽ giúp ta không bị áp lực, mệt
mỏi, bực bội, trái lại, luôn có thể nhận ra và noi theo sự “chạnh lòng” từ
Chúa.
Điều
mang lại sự nghỉ ngơi cho chúng ta không phải là không làm gì cả, mà là khám
phá tình yêu thương trong tâm hồn, khám phá Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng đã hiện
diện trong cuộc sống của chúng ta, khám phá những người thân yêu. Điều chúng ta
cần để tìm thấy sự nghỉ ngơi là dừng lại để nhìn người khác với niềm vui. Ngược
lại, khi chúng ta tìm kiếm sự nghỉ ngơi bằng cách chỉ nghĩ đến bản thân, thì
không có sự nghỉ ngơi nào có thể tái tạo, không có sự nghỉ ngơi nào là đủ. Đôi
khi, chúng ta nghĩ mình cần một chút nghỉ ngơi vì không hài lòng với công việc
và muốn trốn tránh nó. Và chúng ta tìm kiếm những thú vui khiến ta xa rời thực
tại, cuộc sống, và những người khác. Và cuối cùng, sự nghỉ ngơi này chỉ mang lại
sự bất mãn nội tâm.
Thế nên,
ta cần nghỉ ngơi để khám phá ra những người bên cạnh mình: họ cũng cần nghỉ
ngơi.
Chúa
Giêsu khi yêu cầu các tông đồ nghỉ ngơi, là Chúa trân trọng sự nghỉ ngơi của
các tông đồ, Người cộng tác và giúp các ông được nghỉ ngơi.
Nói cách
khác, chúng ta có nhận ra những người khác đang cần nghỉ ngơi và ta đã tạo điều
kiện và cộng tác để họ được nghỉ ngơi ra sao?
Khi yêu
cầu các tông đồ nghỉ ngơi, Chúa Giêsu không để họ tự nghỉ ngơi một mình, hay bỏ
mặc họ nghỉ ngơi sao thì tùy, nhưng Người cùng nghỉ ngơi với họ.
Sự ấm áp
và hỗ trợ từ những người khác là điều cần thiết trên hành trình này. Tôi cần
ánh mắt của họ, tôi cần tiếng vang của họ, tôi cần sự kiên nhẫn của họ cũng như
tôi cần sự dịu dàng của họ.
Tin mừng
ghi nhận: khi Chúa Giêsu nói “họ giống như những con cừu không có người chăn dắt”.
“Không
có người chăn dắt” đó chính là lời tố cáo những người chỉ thích “nghỉ ngơi” cá
nhân và hưởng thụ, mặc kệ những người mà họ có trách nhiệm do Chúa đã trao.
Trong một
nền văn hóa mà “kỳ nghỉ” đồng nghĩa với “không làm gì”, Chúa Giêsu nhắc chúng
ta rằng đối với một Kitô hữu, thư giãn và vui vẻ không phải là không tương
thích với việc chăm sóc và phục vụ người khác. Trái tim tôi có giống với trái
tim của Chúa không? Tôi có chú ý đến các
nhu cầu vật chất và tinh thần của gia đình và bạn bè của tôi ngay cả trong một
"nghỉ ngơi" không?
Mỗi dịp tĩnh tâm là dịp để Chúa
“gửi thiên thần của Người” đến lòng ta một lần nữa, để hỏi: “Con còn sẵn sàng nói xin vâng như ngày đầu không?”, cùng với việc sống tinh thần đoàn sủng Đaminh là “chia
sẻ cho tha nhân những gì mình đã chiêm niệm”, thì mong trong những ngày tĩnh
tâm, trong sự tác động của Chúa Thánh Thần, xin Mẹ Maria giúp quý Sr trở về
“phòng Nazareth nội tâm”, nơi các Sr, như Mẹ Maria, nghe lần đầu tiếng gọi của
Chúa, để rồi mạnh dạn thưa “xin vâng”, “xin
vâng” CÙNG MẸ MARIA MÂN CÔI, LOAN BÁO ĐỨC KITÔ VỚI LÒNG TRẮC ẨN.
Vậy nên, chúng ta cùng nhau đặt
mình trong những ngày tĩnh tâm này với lời chất vấn: tôi và chúng ta sẽ làm gì?
A. LOAN
BÁO ĐỨC KITÔ.
§ 2. ĐẾN
TỪ CHÚA.
I. Thiên
Chúa mời gọi.
1. Ta đặt
ngươi làm ngôn sứ.
“Có lời
Đức Chúa phán với tôi rằng: Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã
biết ngươi, trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi, Ta đặt ngươi
làm ngôn sứ cho chư dân” (Gr 1,4-5).
Thiên
Chúa đến với Grêrêmia trước. Không gì có thể cản trở Chúa được. Việc một hài
nhi ra đời không phải là chuyện ngẫu nhiên, nhưng mỗi người đều là một phần
trong kế hoạch của Thiên Chúa, đều là một lịch sử duy nhất và độc đáo.
Trong
trò chơi chọn “nghề nghiệp”, Giêrêmia đã rút phải một lá bài kỳ lạ. Ông sẽ trở
thành một nhà tiên tri! Ông kinh hãi trước sự trớ trêu của số phận này, hay
đúng hơn là sự lựa chọn của Chúa. Ông phản đối rằng mình hoàn toàn không phù hợp
với nghề này. Ông lập luận rằng nghề tiên tri, một nghề đòi hỏi khả năng diễn
thuyết, và ông còn quá trẻ; ông không biết nói. Nhưng lập luận đó thật vô ích
và trống rỗng. Bởi vì nhà tiên tri đích thực, chỉ có thể hành động nhờ ân sủng
của sự kết nối tâm linh liên tục với Chúa.
Nếu có
nhiều người không nhìn thấy điều cần thấy, thì nhà tiên tri được ban cho một tầm
nhìn phi thường. Con mắt của ông được soi sáng bởi ánh sáng rực rỡ của một nhận
thức sâu sắc về công lý của Chúa. Trong ánh sáng phê phán này, ông nhận thức được
ý nghĩa của các sự kiện trong thời đại mình, những gì đang xảy ra và những gì
có thể xảy ra sau đó.
Không hề
thỏa hiệp, chỉ trung thành với Chúa và chân lý, nhà tiên tri nói với uy quyền
hơn bất cứ ai khác. Lời ông vang vọng và được lắng nghe. Đó là lý do tại sao những
kẻ quyền lực sợ các nhà tiên tri và tìm cách loại bỏ họ.
Nhưng mạnh
mẽ hơn nỗi sợ hãi của mình, Giêrêmia phó thác bản thân cho Chúa. Vâng, xin Chúa
hãy phán, nhà tiên tri của Ngài đang lắng nghe!
Giêrêmia
đã được Chúa cho cơ hội đáp trả, dẫu Ngài vẫn luôn là người mời gọi và đi bước
trước.
Qua bí
tích Rửa tội, mỗi người chúng ta được mời gọi trở thành ngôn sứ, tư tế và vương
giả. Thiên Chúa sai mỗi người chúng ta đến với muôn dân với tư cách là những
người truyền đạt. Không một chức vụ nào ở đời này lại có một vinh dự và trách
nhiệm lớn lao bằng lời mời gọi trở nên đại diện của Thiên Chúa.
Chúng ta
phải có một sự xác tín mạnh mẽ rằng: Thiên Chúa yêu thương chúng ta và tin tưởng
vào chúng ta, đến nỗi Ngài muốn và cần chúng ta cộng tác vào trong công trình của
Ngài. Chúng ta có ý thức ơn gọi của mình hôm nay là gì? Và bởi đâu?
Trong đời
sống thường ngày, chúng ta có thể rất bận rộn vì sứ vụ, vì cộng đoàn, vì Hội
Thánh. Nhưng chính vì thế mà đôi khi, điều căn bản nhất lại bị đẩy lùi vào phía
sau: tại sao tôi có mặt ở đây, và tôi đã được gọi như thế nào.
“Có lời
Đức Chúa phán với tôi rằng…” (Gr 1,4). Câu mở đầu này cho thấy một sự thật nền
tảng: ơn gọi không phải là sáng kiến của con người, mà là lời từ Thiên Chúa
đi vào đời sống một con người cụ thể. Giêrêmia không tìm kiếm vai trò ngôn sứ,
cũng không chuẩn bị cho sứ mạng ấy.
Trong
Kinh Thánh, mỗi khi “có lời Đức Chúa phán”, đó luôn là khoảnh khắc Thiên Chúa
bước vào lịch sử cá nhân của một con người và làm cho lịch sử ấy không còn như
cũ nữa.
Hôm nay,
điều gì đang làm ta thay đổi?
Tĩnh tâm
không phải là lúc để xét xem ta đã làm được bao nhiêu việc tốt, cũng không phải
là lúc để tự kết án mình vì những thiếu sót. Tĩnh tâm là thời gian Thiên Chúa
đưa ta trở về nguồn, trở về với khoảnh khắc sâu xa nhất của đời mình, nơi ơn gọi
không còn là một bổn phận, nhưng là một mầu nhiệm của tình yêu.
2. Ta đã
biết ngươi.
Thiên
Chúa mặc khải không phải là việc Giêrêmia phải làm, nhưng là con người của
ông trong cái nhìn của Thiên Chúa: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ
mẹ, Ta đã biết ngươi” (Gr 1,5a).
Theo chú
giải Kinh Thánh, động từ “biết” ở đây không diễn tả sự hiểu biết trí thức hay
thông tin. Đó là một từ chỉ mối tương quan thân mật, sâu xa, mang tính yêu
thương và tuyển chọn. Khi Thiên Chúa nói “Ta biết ngươi”, Ngài không nói rằng
Ngài chỉ nắm rõ dữ kiện về Giêrêmia, nhưng Ngài khẳng định: “biết” không phải
là biết từ xa, nhưng là biết từ bên trong, biết bằng một mối tương quan sống động.
Thiên Chúa biết Giêrêmia không chỉ là vị ngôn sứ mạnh mẽ được nhắc đến trong lịch
sử cứu độ, mà còn là một con người mong manh, dễ sợ hãi, nhiều lần than trách,
có lúc ước gì mình chưa từng được sinh ra. Và chính con người ấy đã được Thiên
Chúa gọi.
Lời Chúa
qua ngôn sứ Giêrêmia không nói với chúng ta về tương lai, nhưng nói về trước
khi. Chúng ta đừng vội nghe lời này như một câu quen thuộc, nhưng hãy để từng
lời rơi chậm xuống lòng mình. Thiên Chúa không nói: “Sau khi ngươi cố gắng, Ta
mới gọi ngươi”, nhưng nói: “Trước khi…”. Ơn gọi bắt đầu không phải từ
công trạng của con người, mà từ sáng kiến tự do của Thiên Chúa.
Điều
đáng kinh ngạc là mối tương quan ấy đi trước cả sự hiện hữu thể lý của
Giêrêmia. Trước khi ông có hình hài, trước khi người đời biết đến ông, thậm chí
trước khi chính ông có ý thức về bản thân mình, ông đã được Thiên Chúa “biết”.
Như thế, căn tính của Giêrêmia không được xây dựng trước hết trên cái nhìn của
xã hội hay trên thành tựu cá nhân, mà trên ánh nhìn đời đời của Thiên Chúa.
Câu này
mặc khải rằng sự sống con người bắt nguồn từ ý định yêu thương của Thiên
Chúa, chứ không phải từ ngẫu nhiên. Mỗi con người hiện hữu vì đã được “nghĩ
đến” trong trái tim Thiên Chúa.
Điều này
rất quan trọng cho đời tu của chúng ta. Thiên Chúa không gọi một hình ảnh lý tưởng,
không gọi một con người hoàn hảo, mà gọi con người thật của chúng ta.
Ngài biết những ngày đầu đầy lửa mến, và cũng biết những giai đoạn nguội lạnh.
Ngài biết những lúc ta trung thành, và cả những lúc ta chỉ sống đời tu bằng
thói quen. Tuy vậy, ánh nhìn của Ngài không đổi. Ơn gọi không tồn tại nhờ sự
nhiệt thành liên tục của ta, nhưng nhờ tình yêu kiên nhẫn của Thiên Chúa.
Chúng ta
dừng lại một chút trong thinh lặng và tự hỏi: tôi đang dựa vào điều gì để xác định
giá trị đời tu của mình? Dựa vào thành công của sứ vụ, vào sự nhìn nhận của người
khác, hay vào cái nhìn của Thiên Chúa, Đấng đã biết tôi từ trước muôn đời?
Khi đọc
lại đoạn Lời Chúa này trong bầu khí tĩnh tâm, chúng ta được mời gọi đặt chính
mình vào chỗ của Giêrêmia. Lời “Ta biết ngươi” không chỉ vang lên trong quá khứ,
nhưng vẫn là lời đang được Thiên Chúa nói hôm nay. Ngài biết mỗi người không chỉ
trong thành công, mà cả trong sợ hãi, mệt mỏi và giới hạn. Và chính trong sự
“được biết” ấy, con người tìm lại được nền tảng vững chắc cho đời sống và ơn gọi
của mình.
3. Con
đã để Ngài quyến rũ.
“Con đã
để Ngài quyến rũ”, Giêrêmia thừa nhận chính mình đã bị chinh phục bởi sự quyến
rũ của Chúa. Tuy nhiên, khi chấp nhận tình yêu của Chúa, Giêrêmia không còn là
người “bị” nhưng đúng hơn là “được” quyến rũ. Được Chúa quyến rũ đó là một diễm
phúc. Sống với niềm xác tín được Chúa quyến rũ và thuận lòng để cho Chúa quyến
rũ mình đó là hạnh phúc.
Tôi đã
thuận lòng để cho Chúa quyến rũ mình như thế nào, ở những thời điểm nào? Tôi cộng
tác như thế nào để đi vào sự quyến rũ của Chúa? Tôi còn ngỡ ngàng và hạnh phúc
vì nhận biết: Thiên Chúa đã yêu con và con đã để Ngài quyến rũ?
Thiên
Chúa không thúc ép con người phải hành động ngay, mà mời gọi ta dừng lại để ở
trong ánh nhìn của Thiên Chúa. Bởi vì chỉ khi chấp nhận rằng mình đã được
Thiên Chúa biết đến và yêu thương từ trước muôn đời, con người mới có thể bình
an bước vào sứ mạng mà Ngài trao phó.
II.
Thiên Chúa chạm vào.
1. Chạm
vào
“Rồi Đức
Chúa giơ tay chạm vào miệng tôi và phán: đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi” (Gr
1,9).
Thiên
Chúa đã chạm đến Giêrêmia. Thật là một việc khó tin, không thể tưởng tượng nổi,
bàn tay Thiên Chúa đã chạm đến một người phàm. Thiên Chúa, Đấng không cần điều
gì, không cần một ai, đã cần đến Giêrêmia.
Thiên
Chúa có thể ra lệnh, thậm chí áp đặt kế hoạch của mình trên con người. Nhưng,
Thiên Chúa của Giêrêmia, Thiên Chúa của chúng ta, đã muốn liên hệ trước
với con người, đã chạm đến một người phàm, đã chạm đến miệng của con người, đây
chính là sự thân mật.
Chính lời
của Chúa được đặt vào trong môi miệng của Giêrêmia cũng như trong môi miệng của
bất cứ ai chấp nhận một thách đố như Giêrêmia, dám để cho Thiên Chúa chạm đến để
thi hành chương trình của Ngài.
Chúng ta
đang để điều gì và ai chạm đến chúng ta?
2. Ta đã
thánh hiến ngươi.
Sự đụng
chạm của Chúa là: “Trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hiến ngươi”. Thánh
hiến không phải chỉ là một hành động xảy ra trong nghi thức khấn dòng, nhưng quan
trọng là một quyết định trong lòng Thiên Chúa. Trước khi ta chọn đời tu, đời tu
đã được chọn cho ta trong kế hoạch yêu thương của Chúa. Điều này không lấy đi tự
do của con người, nhưng trao cho tự do một chiều sâu mới: tự do đáp lại một
tình yêu đi trước.
Việc
“thánh hiến” không mang nghĩa luân lý trước hết, nhưng mang nghĩa thuộc về.
Giêrêmia được tách ra khỏi sự sử dụng thông thường của đời sống để thuộc trọn về
Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, điều gì được thánh hiến thì không còn là sở hữu
riêng của con người nữa. Điều đó đồng nghĩa với việc đời Giêrêmia sẽ không được
định đoạt bởi những tiêu chuẩn thành công, an toàn hay hạnh phúc thông thường.
Ơn gọi, vì thế, luôn hàm chứa một sự mất mát: mất quyền sở hữu chính mình, để
được thuộc về Thiên Chúa.
Đời tu
đôi khi trở nên nặng nề không phải vì ta đã chọn sai, mà vì ta quên rằng mình thuộc
về Thiên Chúa.
Trong
ngôn ngữ Kinh Thánh, “thánh hiến” nghĩa là được dành riêng cho Thiên Chúa, thuộc
trọn về Ngài. Điều này không hàm ý Giêrêmia ngay từ đầu đã sống thánh thiện hay
hoàn hảo, nhưng nói rằng đời sống của ông đã được đặt trong kế hoạch của
Thiên Chúa. Ơn gọi không phải là phần thưởng cho sự xứng đáng, mà là ân ban
phát xuất từ tự do của Thiên Chúa.
Theo các
nhà chú giải, việc thánh hiến này xảy ra trước mọi hành động của Giêrêmia,
nghĩa là trước cả sự đáp trả của ông. Điều này cho thấy ơn gọi không bị hủy bỏ
bởi yếu đuối, do dự hay sợ hãi. Sau này, Giêrêmia sẽ than trách, sẽ trốn chạy,
sẽ khủng hoảng, nhưng nền tảng ơn gọi của ông vẫn đứng vững, vì nó không dựa
trên ông, mà dựa trên Thiên Chúa.
Phần tôi
thì những “mất mát” của quyền sở hữu, có làm tôi nhận ra mình đã được thánh hiến
và sống trọn việc được thánh hiến không?
3. Thiên
Chúa chạm vào bằng tình yêu.
Trong
ngôn ngữ thường ngày, thì quyến rũ mang nặng tính “ngôn tình”, lời đường mật,
những cử chỉ lôi cuốn người khác đến với mình, chinh phục người khác và làm cho
họ mê mẩn mình…
Vậy, có
lạ không khi Giêrêmia dùng nó để nói về ơn gọi của mình, nói về việc Chúa đối
đãi với mình?
Thiên
Chúa yêu thương một cách kỳ lạ: con người chẳng mấy xứng đáng, đã lầm lạc, đã bỏ
quên Thiên Chúa…, và Thiên Chúa đã chủ động đưa họ trở lại, cho họ một cơ hội để
làm lại và yêu lại từ đầu.
Như thế,
quyến rũ của Chúa có thể hiểu là nỗ lực để có được tình yêu hay là để làm mới lại
tình yêu đã từng có. Ngài là người hoàn toàn chủ động bằng tấm chân tình để
giúp người được yêu không chỉ nghe lại tiếng yêu thương trong tầm hồn mình, mà
còn biết mình luôn mãi được yêu.
Trong
hành trình dâng hiến của mình, đã bao lần ta dừng lại và để cho lòng mình đối
diện với những câu hỏi rất thật về tình yêu: tình yêu của Chúa, của gia đình, của
hội dòng, của chị em, của mọi người. Chúa đã quyến rũ tôi thế nào? Tình yêu tôi
nhận được đăc biệt ra sao? Tôi sống thế nào để cảm thức của một người được yêu,
được quý chuộng và được trân trọng? Mức độ trung thủy của tôi ra sao?
Đồng thời,
trong tình yêu không thiếu những lúc phải trải qua những sóng gió, và khi đó, cần
lắm ít là một trong hai phải đủ mạnh và đủ kiên định để giữ lửa cho tình yêu, để
không bị “gãy” giữa chừng, để không buông tay và không đánh mất. Trong kinh
nghiệm của mình, Giêrêmia khẳng định: người ấy chính là Chúa: ”Ngài mạnh hơn
con, và Ngài đã thắng”.
“Ngài mạnh
hơn” nghĩa là Chúa yêu nhiều hơn, kiên định và thành tín hơn. “Ngài đã thắng”
nghĩa là nhờ sức mạnh tình yêu, nhờ yêu “mạnh” hơn, nên Ngài đã giúp con vượt
qua giông bão, để biết trở về với tình yêu thuở ban đầu, để tiếp tục sống trọn
vẹn với tình yêu của đời mình.
Tình yêu
của Chúa như chiếc phao cứu sinh, là sức mạnh giúp Giêrêmia vượt thắng những
khi yếu đuối của mình.
Trong
hành trình ơn gọi, sẽ rất khó để ta tìm được hạnh phúc và trung tín nếu nền tảng
tình yêu của mình quá ít chỗ cho tình yêu của Chúa chiếm hữu. Ta càng để mình
được nhạy cảm với tình yêu của Chúa thì càng thấy bình an và hạnh phúc dù có
khi đó là thất bại và đau khổ như Giêrêmia. Càng nuôi dưỡng và làm mới tình yêu
với Chúa mỗi ngày bằng một sứ chất vấn không ngừng: Thiên Chúa và Lời của Ngài
còn sức quyến rũ tôi không? Tôi có dám tin và mãi để Chúa quyến rũ tôi không?
Tôi có thường xuyên gìn giữ và “nâng cấp” tình yêu Chúa dành cho tôi không?
Bước đi
mỗi ngày trong ơn gọi dâng hiến, ta còn có được sức sống với niềm hạnh phúc của
một người được yêu và đang yêu không?
III.
Thiên Chúa sai đi.
Rồi
Thiên Chúa tiếp: “Ta đã đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân”.
Đây là đỉnh
cao của lời gọi. Giêrêmia không chỉ được gọi cho Ítraen, mà cho “chư dân”. Điều
này vượt ra ngoài biên giới dân tộc và mở ra một tầm nhìn phổ quát. Ngôn sứ
không sống cho cộng đoàn khép kín, nhưng cho lịch sử nhân loại. Đồng thời, từ
“đặt” cho thấy đây không phải là một chức năng tạm thời, mà là một căn tính.
Giêrêmia không chỉ làm ngôn sứ, mà là ngôn sứ. Căn
tính ấy sẽ theo ông suốt đời, dù ông có muốn hay không.
Ta ý thức việc ta LÀ như thế nào? Hay chỉ
LÀM và coi đó là đủ?
“Ta sẽ
sai ngươi.” Trong Kinh Thánh, động từ “sai” luôn gắn liền với sự hiện diện
của Thiên Chúa. Người được sai đi không phải là người mạnh mẽ nhất, nhưng là
người được bảo đảm rằng mình không đi một mình. Chính Thiên Chúa, Đấng sai đi,
sẽ chịu trách nhiệm về sứ mạng ấy. Vì thế, vấn đề không nằm ở khả năng của
Giêrêmia, mà ở sự trung thành của Thiên Chúa.
“Ta sẽ
sai ngươi” cũng đồng nghĩa với việc Giêrêmia sẽ phải đi đến những nơi ông không
chọn, nói những lời ông không muốn nói, và đối diện với những hậu quả ông không
thể kiểm soát. Giêrêmia được sai đi: không phải để được thành công, mà để trung
thành.
Điều này
cũng đúng với đời tu của chúng ta. Có những nơi ta được đặt đến không phải là
nơi ta chọn. Có những sứ vụ ta đảm nhận không phải lúc nào cũng phù hợp với khả
năng hay ước mơ ban đầu. Nhưng ơn gọi không bị đo lường bằng sự thuận lợi, mà bằng
sự trung thành trong nơi Chúa đặt ta. Khi ta mệt mỏi vì sứ vụ, có lẽ câu
hỏi cần đặt ra không phải là “bao giờ tôi được đổi chỗ”, mà là “Chúa có đang ở
đây với tôi không, và tôi có để Ngài ở đây với tôi không?”.
Qua ơn gọi
của Giêrêmia, Lời Chúa mời gọi mỗi người đọc lại chính đời mình. Có thể chúng
ta không được gọi làm ngôn sứ theo nghĩa Kinh Thánh, nhưng tất cả đều được gọi
để trở thành người được sai đi trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Trước khi ta chọn
Chúa, thì Chúa đã chọn ta. Trước khi ta hiểu đời mình, thì Chúa đã biết ta. Và
trước khi ta dám lên đường, thì Chúa đã nói: “Ta sẽ sai ngươi.”
Ơn gọi,
không phải là câu hỏi: Tôi sẽ làm gì cho Chúa?
Mà là câu trả lời của đức tin trước lời mời gọi: Tôi có dám để Chúa sai tôi
đi không?
Ngay sau
khi được gọi, Giêrêmia đã phản ứng: “Ôi! Con còn quá trẻ”. Phản ứng ấy rất thật,
rất người. Ơn gọi không loại trừ sợ hãi, nhưng sợ hãi không có tiếng nói cuối
cùng. Thiên Chúa không trách Giêrêmia, nhưng trấn an ông: “Đừng sợ, vì Ta ở với
ngươi”. Ơn gọi không dựa trên sức mạnh của người được gọi, mà dựa trên lời hứa
ở lại của Chúa.
Đời tu
không phải là một con đường không có thập giá. Nhưng điều làm cho đời tu có ý
nghĩa không phải là những gì ta chịu đựng, mà là Đấng ở với ta trong những
điều ấy. Ơn gọi không phải là gánh nặng ta phải mang một mình, nhưng là một
hành trình được nâng đỡ từng ngày bởi ân sủng.
Trong
thinh lặng của tĩnh tâm này, mỗi chúng ta hãy trở về với lời đã được ngỏ từ
muôn thuở. Không cần phải cố cảm thấy điều gì đặc biệt. Chỉ cần ở lại trước mặt
Thiên Chúa, Đấng đã biết ta, đã thánh hiến ta, và đã đặt ta vào đời sống này. Ước
gì mỗi người chúng ta có thể thưa lên bằng cả đời mình: “Lạy Chúa, con không
xin hiểu hết ơn gọi của con,
con chỉ xin trung thành với tình yêu mà Chúa đã dành cho con trước.”
§ 3. CÓ CHÚA.
Lc 24, 13-35.
Sách các Vua 1 V 19, 9a. 11-16, nói về
chuyện ông Eliia đang trốn trong một hang núi và được mời gọi ra gặp Chúa trong
một cơn gió hiu hiu.
Gặp Chúa trong cơn gió hiu hiu như một sự bình yên, mát mẻ,
yên bình (khác với động đất, cuồng phong, gió bão…) có vẻ dễ dẫn chúng ta đến
việc tin, và luôn cho rằng Chúa ở trong bình an, yên ổn, sức khoẻ tốt…. Vậy Chúa
chỉ ở trong những lúc cuộc đời ta tốt đẹp, bình an, lợi nhuận… thôi sao? Bão
thì sao, động đất thì sao, đau bệnh thì sao? Chúa ở đâu khi cuộc sống sóng gió,
mất mát….? Phải chăng Chúa không ở đấy “những lúc lao nhọc, đau khổ….?
Chúa
không nói: Ta không ở trong động đất, giông bão… mà là ý nghĩ của Elia, hay như
hai môn đệ Emmaul cũng nghĩ Chúa chết rồi. Đó là ta nghĩ, nhưng rõ ràng câu
chuyện tin mừng xác tín với ta là có Chúa ở cùng.
Chúa đi
trên mặt biển đến với các môn đệ khi họ gặp sóng gió và khẳng định Thầy đây,
còn mời gọi và cho phép Phêrô đi trên mặt biển. Chúa cùng đi và trò chuyện với
hai môn đệ Emmaus. Chúa luôn ở và có mặt trong mọi lúc nhưng chính chúng ta có
nhận ra, còn tin và cùng sống và làm theo những gì Người hướng dẫn không?
I. Hành
trình không có Chúa.
1. Bởi
những thất bại.
Cuộc
thương khó và cái chết của Chúa Giêsu đặt ra thử thách cực đại cho các môn đệ
trên đường theo Chúa. Họ buộc phải nhìn lại và tự hỏi Đấng mình đang bước theo
là ai? Họ buộc phải đối diện với những mong đợi đã đổ vỡ tan tành trong lòng
mình.
Để có thể
bỏ mọi sự mà đi theo Chúa trong ba năm trời, chắc chắn hai môn đệ Emmaus phải đặt
nhiều niềm tin và hy vọng vào Thầy Giêsu lắm: "Trước đây, chúng tôi vẫn hy
vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel".
Hai người
môn đệ này đã theo Chúa với một niềm hy vọng rất đẹp. Đáng tiếc, đó lại là niềm
hy vọng được vẽ ra theo ý của riêng họ.
Bước
theo một vị Thầy như thế, rất khó để hai người môn đệ này không dệt cho mình những
giấc mộng đẹp.
Những mộng
tưởng ấy gặp khủng hoảng khi phải đối diện với Thập Giá. Càng cưu mang ước vọng
theo Chúa để tìm kiếm một cái gì đó cho chính mình, để làm một điều gì đó cho
riêng mình, đạt một mục tiêu nào đó theo kế hoạch và mong đợi của riêng mình...
thì khủng hoảng của người ta sẽ càng sâu nặng. Có khi sau một hành trình dài
theo Chúa, người ta bị buộc phải nhìn lại để nhận ra rằng: thật ra, Chúa đã chẳng
đáp ứng được điều gì trong số những mong đợi mà mình cưu mang trên hành trình
theo Chúa. Hành trình không Chúa.
Đặt mình
đối diện với nổi buồn và nỗi thất vọng của hai môn đệ Emmaus, chúng ta có gặp
chút nào đó những nỗi buồn và thất vọng trong hành trình cuộc đời dâng hiến của
mình không? Niềm tin và niềm hy vọng mà chúng ta đặt vào Thiên Chúa có giống với
niêm tin và niềm hy vọng của hai môn đệ Emmaus không? Trong hành trình đức tin
và ơn gọi của mình, có khi nào chúng ta cũng thất bại giống họ không?
Như thế,
thất bại đầu tiên của ta có thể được gọi tên là thất bại của một đức tin chưa đủ
trưởng thành và một động cơ ơn gọi chưa đủ trong sáng.
Hành
trình không có Chúa thật sự.
2. Không nhận ra Chúa.
a. Giam hãm mình.
Hai môn
đệ trên đường đến Emmaus không nhận ra Chúa vì họ quá đau buồn; họ hoàn toàn
chìm đắm trong nỗi đau khổ trước cái chết của Chúa Giê-su. Mắt họ không nhìn thấy
gì khác; họ ở trong trạng thái sốc đến nỗi không thể chú ý đến bất cứ điều gì
khác.
Những
khó khăn và đau khổ trong cuộc sống đôi khi thử thách đức tin của chúng ta một
cách nghiêm trọng. Thậm chí chúng ta có thể bị cám dỗ muốn bỏ cuộc và quay lưng
lại trên con đường theo Chúa, giống như các môn đệ trên đường đến Emmaus. Chúng
ta đã chịu một cú sốc khủng khiếp khiến ta cảm thấy như mình đã chết, chúng ta
thường để mình cô đơn với những suy nghĩ của mình, cô đơn trong sự tự vấn đau đớn
mà khó có thể thoát ra được. Chúng ta bị mắc kẹt trong sự tự vấn này, trong những
suy nghĩ buồn bã của mình, giống như các môn đệ trên đường đến Emmaus, và chúng
ta không thể nhận ra sự hiện diện của Chúa, Đấng đang ở đó, rất gần chúng ta,
và muốn giúp đỡ và an ủi chúng ta. Nỗi đau và nỗi buồn lấp đầy mọi không gian,
và chúng ta không thấy rằng Chúa Kitô đang đồng hành cùng chúng ta.
Chúa cho
các môn đệ hiểu rằng thập giá không phải là mục tiêu cuối cùng của cuộc sống
trong Chúa Kitô, mà chỉ là một bước trên con đường dẫn đến sự Phục Sinh và sự sống.
Những thử thách của chúng ta cũng là một con đường dẫn đến sự sống. Chúng ta
hãy cầu xin Chúa đồng hành và giúp đỡ chúng ta vượt qua chúng.
Đối với
chúng ta: Có nỗi buồn, gánh nặng, nỗi đau nào đang giam cầm chúng ta, khiến
chúng ta thu mình lại và ngăn cản chúng ta nhận ra Chúa ở bên cạnh? Nỗi buồn
nào, khoảng trống nào, nỗi đau nào ngăn cản chúng ta nhận ra sự hiện diện của Đấng
Cứu Thế phục sinh đang đồng hành cùng chúng ta?
Nhiều lần
tôi đã để Chúa rời xa mình khi tôi từ chối sự an ủi của Ngài, khi tôi chối bỏ sự
đồng hành của Ngài trong những lúc khó khăn và thích tìm kiếm những giải pháp vội
vàng ở nơi khác, từ những kẻ gieo rắc ảo tưởng. Khi làm như vậy, tôi đã tự tước
đoạt niềm vui Phục Sinh, điều mà Chúa không thể từ chối ban cho tôi. Cuộc sống
của tôi khi đó trở nên đầy những khoảnh khắc buồn bã lấn át những khoảnh khắc
vui vẻ hiếm hoi. Cuộc sống của tôi giống như Mùa Chay mà không có Lễ Phục Sinh.
b. Anh
chị em bên tôi.
Một thất
bại cũng không kém phần quan trọng nơi hai môn đệ Emmaus đó là việc họ đã không
dám đặt niềm tin vào cộng đoàn của mình. Họ không dám đặt niềm tin vào chính những
người cùng chia sẻ một hành trình ơn gọi với mình.
Hai môn
đệ này kể lại rằng họ đã được nghe từ những người anh chị em của họ, là hai phụ
nữ ra thăm mồ, và những người anh em trong cộng đoàn của họ nói về việc Chúa Phục
Sinh (Lc 24,22-24). Nhưng họ không tin.
Chúa muốn
dùng chính những người anh chị em trong cộng đoàn của họ để kể lại cho họ nghe
về chuyện của Chúa.
Nhưng họ
đã không dám tin bằng niềm tin của cộng đoàn mình. Họ không có được kinh nghiệm
trực tiếp với Chúa, nhưng kinh nghiệm trực tiếp được kể lại từ chính anh chị em
trong cùng cộng đoàn lại không có giá trị gì đối với họ cả.
Họ buồn
rầu và bỏ cuộc rời đi trong khi cả cộng đoàn của họ đang bắt đầu nhen nhúm lên
một niềm tin mới mẻ và bắt đầu sống niềm vui Phục Sinh. Khi Chúa đã chuẩn bị
cho cả cộng đoàn của họ sẵn sàng tiến về phía trước thì chính họ lại chọn để
cho mình tuột về phía sau.
Thế nên
thất bại của hành trình Emmaus là thất bại của những người tự tách mình ra khỏi
cộng đoàn mà mình thuộc về. Hành trình về Emmaus là biểu tượng của một bước rút
lui, của sự bỏ cuộc, của việc thu mình về lại với cái góc đời nhỏ hẹp của riêng
mình. Hành trình về Emmaus đẩy người ta đi ngược và rời xa cả cộng đoàn mình. Hành
trình về Emmaus buồn vời vợi, vì đó là con đường của người đã chấp nhận buông
tay khi mà hành trình của người ấy và của cả cộng đoàn vẫn còn đang dang dở.
Hành trình về Emmaus là hành trình thất bại, vì nó phá vỡ sự hiệp nhất trong cộng
đoàn của những người theo Chúa.
c. Hiểu
và yêu.
Điều có
liên quan về Chúa thì thật là nhiều, thật dự thừa, nhưng hai môn đệ Emmaus lại
không có Chúa. Tại sao vậy? Chúa trả lời cho ta rằng: “Ôi, chẳng hiểu gì và chậm
chạp nơi quả tim của những kẻ tin”, nghĩa là, đối với Chúa, xem ra họ là những
người tin nhưng do trí chậm hiểu và lòng chậm yêu, nên hành trình của họ
có Chúa nhưng không thấy Chúa.
Điều này
cũng xảy ra với các Tông đồ, khi những phụ nữ ra mồ lúc sáng sớm báo họ cho rằng
Chúa đã sống lại, thì họ cho rằng những thông tin của là vớ vẩn.
Có những
thông tin về Chúa cho dù có thích nhưng không đưa ta đến thái độ và cách sống
hiểu và yêu, nên ta đã không nhận ra Chúa, nghĩa là không thực sự sống có Chúa
bằng một sự biến đổi.
Khi ta
chậm hiểu và chậm yêu thì rõ ràng đó là vì ta đang trên “hành trình” (đang cần
tiến tới để hiểu và yêu), nhưng điều đó cũng đồng nghĩa làm cho ta không nhận
ra và nhậ thấy Chúa. ta phải phân định rõ ràng.
II. Chúa
Giêsu tiến đến.
Việc đầu
tiên Đức Giêsu làm cho hai môn đệ của mình là "đến gần" họ. Đến gần
là hành động thân thiết giữa những người bạn và những người thân. Đến gần một
người là để chạm vào nỗi niềm của người ấy, hay đúng hơn là để cho những nỗi niềm
của người ấy chạm vào mình. Đến gần là bước vào trong thế giới của nhau. Chỉ đứng
như một người quan sát cử xa, rất dễ để người ta nhìn mọi sự qua lăng kính chủ
quan và sai lệch. Người đứng từ xa rất dễ chỉ dừng lại ở xét đoán và kết án. Phải
đến thật gần bên nhau người ta mới có thể thật sự thấu hiểu và thông cảm với
nhau.
Chúa
Giêsu đến gần là để cùng đi với hai môn đệ của mình. Người cùng đi bằng chính
nhịp đi của họ và theo mạch câu chuyện của họ. Người không bắt đầu bằng việc dạy
dỗ hay giải thích những khúc mắc của họ như một người có mọi thẩm quyền và thấu
biết mọi sự. Người không ngay lập tức tỏ mình ra để hướng dẫn và giải quyết vấn
đề cho họ. Đến gần và cùng đi là chấp nhận dành thời giờ, tâm huyết, tình
thương, và rất nhiều sự kiên nhẫn cho hai người môn đệ đang trong cơn muộn phiền
thất vọng. Đức Giêsu chấp nhận vị trí khởi đầu như thể mình là "người duy
nhất trú ngụ ở Giêrusalem mà không hay biết chuyện gì đã xảy rả" (Lc
24,18), để giúp cho cho hai con người đang muộn phiền có cơ hội mở lòng và bộc
bạch những nỗi niềm của họ.
Người
cho họ cơ hội để nói, để thoải mái trút ra tất cả những gì đang đè nặng trong
lòng họ.
Một cách
thật kỳ diệu, hai môn đệ Emmaus bỗng dưng mở lòng tâm sự với người khách lạ đi
bên cạnh mình như thể đó đã là một người bạn thân thiết. Người bạn ấy im lặng lắng
nghe và đi cùng. Khi có một người dám đi cùng với chúng ta trên hành trình muộn
phiền và thất bại của mình, khi chúng ta dám đi cùng với một người nào đó trên
hành trình muộn phiền và thất bại của họ, khi chúng ta đủ can đảm để chia nhau
muộn phiên và thất bại của cuộc đời mình, đó là lúc chúng ta có thể cảm nhận rõ
nhất sự gần gũi và đồng hành đến từ chính Thiên Chúa. Khi có Chúa bước vào
trong nỗi buồn của chúng ta, nỗi buồn ấy sẽ không còn là nỗi buồn nữa.
Khi
chúng ta cho Chúa cơ hội cùng bước đi trong nỗi buồn của chúng ta, chính Chúa sẽ
dắt chúng ta bước ra khỏi nỗi buồn của đời mình. Nhưng thật sự ta đang làm điều
này như thế nào? Và có thường xuyên không?
Cũng thế,
ta sống thái độ “đến gần” với nhau ra sao? Nhiều khi ta được “đến gần” mà cứ ngỡ
ta đang đến gần (như hai môn đệ Emmaus kinh nghiệm được Chúa cùng đi, giúp họ sống
đúng nghĩa với việc “đến gần” người khác khi họ quay về Giêrusalem.)
1.
“Đến gần” Chúa qua Kinh Thánh.
Chúng ta
mong đợi điều gì từ Chúa Giê-su? Rằng Ngài sẽ đến và giải quyết những vấn đề hằng
ngày của chúng ta? Rằng Ngài sẽ giải thoát chúng ta? Giải thoát khỏi điều gì?
Chúng ta nhìn nhận Chúa Kitô bị đóng đinh và phục sinh như thế nào? Từ sự hiểu
biết này mà niềm hy vọng chúng ta đặt nơi Ngài được nảy sinh. Và để sự hiểu biết
này trở thành đức tin, chính Chúa phải đến và định hình nó bằng cách đồng hành
cùng chúng ta qua Kinh Thánh, bằng cách ban cho chúng ta sự hiện diện và Thánh Tthần
của Ngài. Chúa nhắc nhở hai môn đồ về Kinh Thánh bởi vì đôi khi các tín đồ bị lạc
lối trong suy nghĩ và lý luận của mình, nhưng tất cả những gì cần làm là tìm đường
trở lại Lời Chúa; đó là nơi câu trả lời nằm ở đó.
Chúng ta
phải đọc lại và đào sâu vào Kinh Thánh để hiểu những gì Kinh Thánh nói về Chúa
Kitô, đối mặt với khó khăn trong việc hiểu Lời Chúa, thay vì bằng lòng với những
câu trả lời dễ dàng, có sẵn. Vì chính trong Lời Ngài mà Đức Chúa Trời bày tỏ
chính Ngài và cho chúng ta hiểu biết về Ngài là ai và Ngài muốn gì cho thế giới.
Ngọn lửa
bùng cháy trong môn đệ Emmaus khi Chúa Kitô nói và giải thích những gì ứng nghiệm
với Kinh Thánh.
Lời Chúa
là một trong những cách mà Chúa Giêsu hiện diện với chúng ta. Chính qua Lời
Chúa mà Người nói với chúng ta trong lời cầu nguyện và khích lệ chúng ta tiếp tục
con đường của mình. Người đến để sưởi ấm những trái tim chúng ta, đôi khi lạnh
lẽo và chai sạn bởi sự nản lòng và bi quan. Qua Tin Mừng, Người phục hồi cho
chúng ta sức mạnh, niềm hy vọng và khát khao tiếp tục hiến dâng chính mình.
Chúng ta hãy lắng nghe Chúa như các môn đệ trên đường đến Emmaus. Có lẽ có một
đoạn nào trong Tin Mừng hôm nay đã đặc biệt chạm đến trái tim chúng ta? Chúng
ta hãy tạ ơn Chúa vì món quà Lời Chúa hôm nay.
2.
“Đến gần” Chúa nơi Thánh Thể.
Bí tích
Thánh Thể là kho báu quý giá nhất mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta. Đó là kho
báu về sự hiện diện của Người, là Chúa Kitô hằng sống và phục sinh giữa chúng
ta trong bánh và rượu thánh. Như vậy, Người giữ lời hứa của mình: “Ta ở cùng
các con cho đến tận cùng thời đại .” (Mt 28:20). Chính nhờ Bí tích
Thánh Thể mà các môn đệ trên đường đến Emmaus được chữa lành khỏi bệnh mù và được
nhìn thấy Chúa. Chính nhờ Bí tích Thánh Thể mà họ lại được hiệp thông với Giáo
Hội quy tụ tại Giê-ru-sa-lem: “Họ liền đứng dậy và trở về Giê-ru-sa-lem.”
Chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì kho báu tuyệt vời này, là sự hiện diện của Người.
Không chỉ
đến gần và đi cùng, Đức Giêsu còn nhận lời "ở lại" với hai môn đệ của
mình khi "trời đã xế chiều và ngày sắp tàn" (Lc 24,29).
Điều mà
Đức Giêsu thực hiện cho hai môn đệ của mình là điều mà Giáo Hội ngày nay vẫn hằng
thực hiện cho chúng ta ngang qua Thánh Lễ mỗi ngày. Giáo Hội luôn dạy rằng
Thánh Lễ là trung tâm của đời dâng hiến. Trong tất cà mọi hoạt động trong ngày
sống của một người tu sĩ, không có giây phút nào thiết yếu và quan trọng cho bằng
Thánh Lễ.
Đó là
giây phút từng người được tham dự vào bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể với
vị Thầy Chí Thánh của mình. Đó là bàn tiệc của tình yêu.
Đến với
bữa tiệc tình yêu của Đức Giêsu hai môn đệ Emmaus đã mang theo trọn nỗi niềm của
mình. Của lễ họ dâng lên Chúa hôm ấy chính nỗi buồn mà họ đang cưu mang, là những
lời tâm sự còn ẩn khuất trong lòng họ, là nỗi thất vọng trên đường đời, là nỗi
nghi nan và sợ hãi, là niềm tin còn non mỏng và yếu đuối, là xu hướng muốn bỏ
cuộc và chạy trốn. Hai môn đệ bước vào trong bữa tiệc với Đức Giêsu, mang theo
trọn vẹn con người thật của họ và cả câu chuyện cuộc đời họ. Khi tất cả được đặt
vào trong bữa tiệc với Đức Giêsu, tất cả đều được biến đổi một cách kỳ diệu.
Mỗi
chúng ta ý thức thế nào về giá trị Thánh Lễ? Ta đã, đang và sẽ có thái độ nào
khi tham dự Thánh Lễ?
Con đường
có Chúa.
Giêrusalem
nằm ở độ cao gần 1.000m trên mực nước biển, Emmaus thì chỉ nằm ở độ cao khoảng
250m. Bởi thế, con đường từ Giêrusalem về Emmaus là con đường thoai thoải xuôi
dốc. Đó là con đường rất thoải mai. Đi trên con đường ấy, người ta không cần phải
cố gắng gì. Tựa như chỉ cần buông thông thì mình sẽ tự trượt trên con đường
xuôi dốc vậy... Đường chiều từ Giêrusalem về Emmaus có nắng và gió, rất thoải
mái dễ chịu.
Thế
nhưng đi trên hành trình về Emmaus, càng lúc người ta mới càng nhận ra những dấu
hiệu của những khó khăn và bất ổn. Emmaus nằm ở phía Tây thành Giêrusalem. Đi về
Emmaus nghĩa là mình đi về phía mặt trời lặn. Về hướng đó, càng đi người ta sẽ
càng đẩy mình lún sâu hơn vào bóng đêm. Hành trình ấy chỉ có thể càng lúc càng
mờ tối và lạnh lẽo hơn.
Đó là
con đường rất bất ổn.
Ba năm
trước, trên hành trình theo Chúa, họ đã đi từ hướng ngược lại, từ Emmaus đến
Giêrusalem. Đó là con đường dốc ngược, nhưng con đường ấy hướng họ về phía mặt
trời mọc. Bình minh của cuộc đời đang mời gọi và đày nhựa sống, đầy thao thức
và quyết tâm. Không khó để hấp dẫn từng bước của họ.
May mắn
cho hai môn đệ Emmaus, Chúa Giêsu đã đi tìm và dẫn họ trở về trên chính con đường
tháo chạy ấy. Sau cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, họ làm một cuộc chuyển hướng ngoạn
mục để quay trở lại Giêrusalem. Họ quay trở lại với con đường dốc ngược, nhưng
là con đường của ước mơ đời họ. Họ quay trở lại với hành trình đi về phía mặt
trời, để tiếp tục hành trình ơn gọi của đời mình. Để sống lại cuộc đời mà Chúa
muốn họ sống. Để hội nhập lại vào bầu khí hiệp nhất huynh đệ của cộng đoàn
Giêrusalem.
CUỘC
CHUYẾN HƯỚNG
Hành
trình rời Giêrusalem để tìm về Emmaus, đó là một cuộc chuyển hướng đáng tiếc. Từ
nơi người ta đã dứt áo ra đi trên hành trình theo Chúa. Nhưng đó cũng là nơi
người ta thỉnh thoáng hay ngoanh đầu nhìn lại và đối diện với ước muốn tìm về.
Luôn có một góc nào đó trong lòng người sống đời dâng hiến có thế gọi tên là
Emmaus. Luôn có đó những Emmaus là biểu tượng của sức ì, của những pháo đài
quen thuộc mà người ta hay thu mình lại cố thủ mỗi khi phải đối diện với đau buồn
và thất bại... Có những khi người ta vẫn tưởng rằng mình đang theo Chúa trên
hành trình lên núi thánh Giêrusalem, nhưng thực tế lại đang tuột dốc và bước
chân mình đang lần tìm về trên những nẻo đường Emmaus quen thuộc của thuở nào.
Làm gì có người nào bước về Emmaus mà lòng bình an hạnh phúc?
Bất cứ một
hành trình theo Chúa nào cũng cần những cuộc chuyển hướng để dứt mình ra khỏi
những Emmaus quen thuộc và cố hữu. Chỉ cần mở lòng mình ra. Chỉ cần để cho Chúa
đến gần. Chỉ cần dành cho Chúa một chỗ nhất định trong đời mình những khi trời
đã chiều và ngày sắp tàn.
Chính
Người sẽ thắp lại trong lòng chúng ta ngọn lửa yêu thương. Và trái tim dâng hiến
của chúng ta sẽ lại bừng cháy.
§ 4. VỚI
CHÚA
Mt
5,1-12.
I. Thế
nào là người nghèo trong tâm hồn?
Hôm nay
chúng ta cùng tìm hiểu về lời chúc phúc đầu tiên trong tám lời chúc phúc từ
Phúc Âm Matthêu. Chúa Giêsu bắt đầu loan báo con đường dẫn đến hạnh phúc bằng một
lời tuyên bố nghịch lý: “Phúc cho những người nghèo khó trong tâm hồn, vì Nước
Trời thuộc về họ ” (5,3). Một con đường đáng ngạc nhiên và một đối tượng
của lời chúc phúc cũng kỳ lạ: sự nghèo khó.
Chúng ta
phải tự hỏi: từ "nghèo” ở đây có nghĩa là gì? Làm thế
nào chúng ta có thể coi nghèo khó như một phước lành?
Trước hết,
chúng ta hãy cố gắng hiểu ý nghĩa của cụm từ “nghèo khó về tâm hồn.”
Tính từ
Hy Lạp ptochós (nghèo) không chỉ có nghĩa vật chất mà còn có
nghĩa là “người ăn xin”. Nó có liên quan đến khái niệm anawim của
người Do Thái, “người nghèo của Chúa”, gợi lên sự khiêm nhường, nhận thức về những
hạn chế của bản thân, về hoàn cảnh nghèo khó hiện sinh của mình.
Nói cách
khác, người nghèo: là không có sở hữu hay sở hữu ít; trong tâm hồn:
nghĩa là thuộc về tâm trí. Vì vậy, "người nghèo khó về tâm hồn" là những
người nghèo khó và cảm thấy nghèo khó, như những người ăn xin, trong tận đáy
lòng. Chúa Giêsu tuyên bố họ được chúc phúc, bởi vì Nước Trời thuộc về họ, bởi
những người anawim tin tưởng vào Chúa; họ biết rằng họ phụ thuộc
vào Ngài.
Đã bao
nhiêu lần chúng ta được nghe điều ngược lại! Bạn phải là một người có tầm ảnh
hưởng trong cuộc sống, phải là một ai đó... Bạn phải tạo dựng tên tuổi cho
mình... Đây là nguồn gốc của sự cô đơn và bất hạnh: nếu tôi phải là "một
ai đó", tôi sẽ phải cạnh tranh với người khác và sống trong sự ám ảnh bởi
cái tôi của mình. Nếu tôi không chấp nhận sự nghèo khó, tôi bắt đầu ghét mọi thứ
nhắc nhở tôi về sự yếu đuối của mình. Bởi vì sự yếu đuối này ngăn cản tôi trở
thành một người quan trọng, một người giàu có không chỉ về tiền bạc, mà còn về
danh tiếng, về mọi thứ.
Mỗi
chúng ta, khi đối diện với chính mình, đều biết rõ rằng dù cố gắng đến đâu,
chúng ta vẫn luôn bất toàn và dễ tổn thương. Không có cách nào che giấu được sự
dễ tổn thương này. Chúng ta cần phải nhận ra điểm yếu của mình. Nhưng chúng ta
sẽ bất hạnh biết bao nếu từ chối thừa nhận những hạn chế của bản thân, bởi nó vẫn
luôn hiện hữu.
"Có
ba từ kỳ diệu: làm ơn, cảm ơn và tôi xin lỗi." Đây là những từ xuất phát từ
sự nghèo khó về tinh thần. Chúng ta không nên can thiệp quá mức, mà hãy xin
phép: "Điều này có vẻ là một việc tốt nên làm không?" Bằng cách này,
sẽ có một cuộc đối thoại và cùng trò chuyện trong cộng đoàn.
"Bạn
đã làm điều này cho tôi, cảm ơn bạn, tôi rất cần điều đó." Những người
kiêu ngạo không dám cầu xin sự giúp đỡ, không thể cầu xin sự giúp đỡ, họ không
có bản năng cầu xin sự giúp đỡ vì họ cảm thấy phải chứng tỏ sự tự lập của mình.
Và biết bao nhiêu người trong số họ cần giúp đỡ, nhưng lòng kiêu ngạo ngăn cản
họ cầu xin.
Và thật
khó khăn biết bao khi phải thừa nhận sai lầm và xin tha thứ! Chúng ta luôn mắc
lỗi, phạm sai lầm: "Tôi xin lỗi." Và nói chung, điều thứ ba là khó nhất,
đó là xin lỗi, cầu xin sự tha thứ. Bởi vì người kiêu ngạo không thể làm được điều
đó. Họ không thể xin lỗi: họ luôn luôn đúng. Họ không nghèo khó về tinh thần. Mặt
khác, Chúa không bao giờ mệt mỏi trong việc tha thứ; thật không may là chính
chúng ta mới mệt mỏi khi cầu xin sự tha thứ.
Chúa
Giêsu nói với chúng ta: nghèo khó là một cơ hội để nhận được ân sủng. Chúng ta
được ban ân sủng để hiểu giá trị và biết khao khát nghèo khó về tâm linh, bởi
vì đó là con đường dẫn đến Nước Thiên Chúa, khi ta sống nghèo khó thì chính ân
sủng giúp ta, và khi được, cho dẫu chưa hoàn hảo, thì ta lại được đón nhận ân sủng,
“Nước Trời là của họ”
Cơn cám
dỗ muốn là người giàu trong tâm hồn: thông thường những quyết định đúng và khôn
ngoan thì đó là điều Chúa muốn, nhưng cũng đôi khi đó không phải là điều Chúa
muốn, mà nó chỉ là cái gì đó theo kiểu thế gian. (trường hợp quyết định lìa bỏ
Đức Mẹ của Thánh Giuse).
Lời mời
gọi: hãy luôn biết phân định đâu là ý tôi và ý Chúa, rồi dám buông bỏ ý riêng
và sống theo ý Chúa.
II. Đức
Kitô chọn lối sống nghèo trong tâm hồn.
Khi Con
Thiên Chúa trở thành người, Người đã chọn con đường nghèo khó, con đường tự hạ
mình: dù giàu có, Người đã trở nên nghèo khó để chúng ta được giàu có nhờ sự
nghèo khó của Ngài (x 2Cr 8,9). Đây là mầu nhiệm mà chúng ta
chiêm nghiệm trong máng cỏ, nhìn thấy Con Thiên Chúa trong máng ăn; và sau đó
trên thập tự giá, nơi sự tự hạ mình đạt đến đỉnh điểm.
“Sự
nghèo khó” nơi Chúa có ba cấp độ. Cấp thứ nhất về sự nghèo khó hoàn hảo của Đức
Kitô là Người muốn sống nghèo đối với mọi của cải trần gian. Người không có một
căn nhà, một thửa đất, một vườn nho, một tài sản nào khác. Người chịu nghèo
khó, đói khát, nóng bức và lạnh giá, mệt nhọc, thiếu thốn….
Cấp
nghèo khó thứ hai là Người lựa chọn sống nghèo về bà con và bạn hữu…
Cấp
nghèo khó thứ ba là Người muốn lột bỏ chính mình. Ngài muốn trở thành nghèo về
sức mạnh thần linh, về sự khôn ngoan và vinh quang của mình.
Cấp độ
nghèo khó thứ ba sâu sắc hơn hết, vì đụng chạm tới cái mình là, chứ
không chỉ cái mình có. Đối với Đức Kitô, nghèo ở cấp độ này là ở chỗ làm
người, hủy bỏ mình, không phải là hủy bỏ thiên tính mà là hủy bỏ tất cả những
gì Người có thể đòi hỏi nhờ thiên tính, như vinh quang, giàu sang.
Nơi Đức
Kitô, sự nghèo khó nổi bật dưới hình thức cao cả nhất, không phải hình thức là
người nghèo, nhưng là hình thức làm cho mình trở nên nghèo, và làm như thế vì
tình yêu, để làm cho người khác được giàu có.
Như thế, điều làm cho nghèo khó
có một giá trị tôn giáo, chính là động cơ khiến người ta chọn lối sống nghèo.
III. Ai
là người nghèo trong tâm hồn?
Làm thế
nào chúng ta có thể cụ thể hóa sự nghèo nàn về tâm hồn này
thành một lối sống thực sự ảnh hưởng đến sự tồn tại của chúng ta?
Sống
nghèo là một tự do chọn lựa chứ không phải là một tình trạng cam chịu. Có ba điểm.
Trên hết,
hãy cố gắng sống tự do trước mọi sự. Chúa kêu gọi chúng ta sống
theo lối sống Tin Mừng, đặc trưng bởi sự tiết độ, không khuất phục trước văn
hóa tiêu dùng. Chúng ta phải tìm kiếm những điều thiết yếu, học cách loại bỏ
hàng ngàn thứ thừa thãi và vô dụng đang kìm hãm chúng ta. Hãy tách mình khỏi
lòng ham muốn sở hữu.
Cơn cám
dỗ, dù là người giàu hay nghèo vật chất, nhưng chỉ mãi miết bám víu, dính bén
hay không muốn buông bỏ (với người giàu); chỉ mải miết tìm kiếm của cải vật chất
(người nghèo vật chất), thì tất cả sẽ không có chỗ cho Chúa trong tâm hồn và
trong cuộc đời họ.
Chẳng hặn,
người nghèo nhất trong một cộng đoàn có phải nhất thiết là người có ít vật dụng
nhất để sử dụng? Nghèo khó không chỉ là vấn đề của việc không có các “đồ vật”:
Thái độ khước từ một số những tiện nghi làm giảm đi những thuận lợi chung, thậm
chí gây khó khăn hơn cho việc chung thì đó không phải nghèo đích thực. Cũng thế,
một người có thể không sở hữu gì cả nhưng lại quá thoả mãn và thích thú khi hưởng
thụ riêng tư từ những thứ vốn là của chung mọi người - bài hát trong ban hợp xướng,
những bài giảng theo đề tài, bài đọc trong phòng ăn - những giờ tự do trong cộng
đoàn, thời giờ của những người khác…
Ngay cả
khả năng giúp đỡ và cống hiến cho những người khác (thời giờ và những gì chúng
ta có) vẫn có thể được “sở hữu” nếu chúng ta thực sự áp đặt cái tôi của mình
lên người khác và ép buộc họ quy về phía chúng ta.
Thứ hai,
để sống trọn vẹn lời chúc phúc này, tất cả chúng ta cần phải hoán cải
thái độ đối với người nghèo. Chúng ta phải quan tâm đến họ, nhạy cảm với
nhu cầu vật chất và tinh thần của họ, phải vượt qua cám dỗ của sự thờ ơ. Chúng
ta cũng hãy nghĩ đến những người không cảm thấy được yêu thương, những người
không có hy vọng vào tương lai, những người từ bỏ cuộc sống vì họ nản lòng, thất
vọng và sợ hãi. Chúng ta phải học cách ở bên cạnh người nghèo. Đừng chỉ nói những
lời hay ý đẹp về người nghèo! Hãy gặp gỡ họ, nhìn vào mắt họ và lắng nghe họ.
Người nghèo là cơ hội cụ thể để chúng ta gặp gỡ chính Chúa Kitô, để chạm vào
thân xác đau khổ của Ngài.
Chẳng hạn,
những anh lính trong cuộc thương khó của Chúa. Với họ, Chúa Giêsu chẳng có xung
đột gì hết, nhưng phải chăng vì đó là do thói quen chuyên xử tử và mỉa mai người
khác để rồi không còn chỗ cho thương cảm? Và hay đó chỉ là do công việc nên làm
thế?
Chúng ta
cũng sống chỉ vì công việc, chỉ vì thói quen để rồi không còn cảm được gì hết
sao? Không còn thấy được mục đích công việc, cuộc sống mà mình đang ở trong đó
sao?
Mỗi người
được mời gọi sống nguyên tắc: tôi nghèo để anh chị em tôi giàu có. Liệu ta có
đánh lòng sống theo nguyên tắc này không?
Thứ ba –
người nghèo không chỉ đơn thuần là những người mà chúng ta có thể cho họ thứ gì
đó. Họ cũng có rất nhiều điều để cống hiến và dạy chúng ta. Họ cho
chúng ta thấy rằng giá trị của một người không được định nghĩa nhiều bởi những
gì họ sở hữu. Một người nghèo, một người bị tước đoạt của cải vật chất, luôn giữ
được phẩm giá của mình. Người nghèo cũng có thể dạy chúng ta nhiều điều về sự
khiêm nhường và lòng tin tưởng vào Chúa. Như dụ ngôn về người Pha-ri-si và người
thu thuế (Lc 18,9-14), hay người góa phụ bỏ hai đồng xu nhỏ vào kho
bạc của đền thờ là một ví dụ về lòng quảng đại của người hầu như không có gì
nhưng lại dâng hiến tất cả (Lc 21,1-4).
Chúng ta
cảm nhận được sự hoán cải cần thiết của mình biết bao, để logic của việc trở
nên tốt hơn thắng thế logic của việc sở hữu nhiều hơn!
IV. Tại
sao phải sống nghèo?
Trước
tiên, phải khẳng định, Kitô giáo không hề cổ vũ cho phận nghèo, lạc hậu, cũng
không chủ trương bần cùng và ngu dốt! Bởi có khối người giỏi, thông minh, trình
độ, thành đạt và giàu có là những người không chỉ tin mà còn sống đức tin cách
tuyệt vời.
Đồng thời,
chúng ta phải khẳng định: chúng ta không được tự biến đổi để trở nên nghèo khó
về tinh thần; chúng ta không trải qua bất kỳ sự biến đổi nào bởi vì chúng ta vốn
dĩ đã nghèo khó, hay nói rõ hơn: chúng ta “bất hạnh” về tinh thần! Chúng ta cần
mọi thứ. Tất cả chúng ta đều nghèo khó về tinh thần; tất cả chúng ta đều là những
kẻ ăn xin. Đó là thân phận của con người.
Chỉ có một
nẻo đường cho những ai trở thành muốn thành người giàu của Nước Trời, đó là sống
là người gnhèo khó trong tâm hồn: dám buông bỏ mọi sự để sống thuộc về Chúa và
theo ý Chúa.
Chúa
Kitô đã thể hiện quyền năng của Ngài như thế nào? Bởi vì Ngài biết cách làm những
điều mà các vị vua trần gian không làm được: hi sinh mạng sống mình cho nhân loại.
Và đó mới là quyền năng đích thực. Quyền năng của tình huynh đệ, quyền năng của
lòng bác ái, quyền năng của tình yêu thương, quyền năng của sự khiêm nhường. Đó
là những gì Chúa Kitô đã làm và muốn chúng ta làm.
Sau
cùng, nếu như mối phúc thứ 8 khẳng định những ai bị bách hại thì thuộc về Nước
Trời, thì trong mối phúc khó nghèo trong tâm hồn, nói đến việc “tự bách hại” được
diễn tả một thái độ quyết liệt trong từng ngày, từng giờ và từng biến cố để sống
con đường buông bỏ, bám víu và sở hữu những gì theo thế gian, để thuộc về Chúa
và theo Chúa. đó chính là con đường để được thuộc về Nước Trời.
§ 5: THUỘC
VỀ CHÚA.
Mt
5,13-16
I. Một
danh tính mới
Chúa
Giêsu nói các môn đệ của mình là: Các con là muối và ánh sáng cho thế gian.
Là muối
và ánh sáng của thế gian. Người không
nói "bạn sẽ là", nghĩa là "bạn sẽ là muối và ánh sáng", nếu
bạn làm điều này, nếu bạn nhận ra điều kia, nếu bạn có thái độ như vậy, nếu bạn
thực hiện một công việc của tôn giáo. Không có điều kiện được yêu cầu. Chúa
Kitô nói với các môn đệ của Người và cũng nói với chúng ta để cho chúng ta biết
chúng ta là ai, chứ không phải chúng ta phải làm gì. Chúa Kitô công bố Ân
sủng chứ không phải Luật pháp.
Những lời
này xác định các môn đệ, và mang lại cho họ một căn tính mới: muối đất và ánh
sáng thế gian. Những người đánh cá xứ Galilê không có tư cách đặc biệt để được
gọi làm môn đồ, và đám đông theo Chúa Giêsu cũng vậy. Họ có mọi thứ là do
nhận và không có gì để cho lại, chính cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô đã thực sự biến
đổi cuộc đời họ. Hơn nữa, giống như chúng ta, những người đã không xin bất
cứ điều gì nhưng đã nhận được ân sủng và sự tha thứ thông qua Người. Chúng ta, những người không xứng đáng với bất cứ điều
gì, nhưng hiện đang sống mỗi ngày trong sự chắc chắn của sự cứu rỗi.
“Anh em
là muối và ánh sáng” là căn tính của chúng ta mà Chúa Kitô tuyên bố. Chúng
ta, những người được kêu gọi vào Nước Trời, hay nói cách khác, chúng ta, những
người hiện đang được đảm bảo về sự cứu rỗi, giờ đây đã được Chúa Kitô xác định,
đặt tên và sự tồn tại của chúng ta giờ đây đã được định sẵn để thế giới biết đến
và công nhận.
II. Một
ơn gọi mới.
Lý do thứ
hai để vui mừng, và bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta với Chúa, đến từ việc
chúng ta đón nhận, với những lời này của Chúa Giêsu về muối và ánh sáng, một ơn
gọi mới.
Muối và
ánh sáng, theo truyền thống của Israel, là biểu tượng đã được biết đến, và những
người nghe Chúa Giê-su không thể thờ ơ với cái tên như vậy. Trong Cựu Ước,
muối dùng để bảo quản cũng là biểu tượng của sự lâu bền, của sự vĩnh cửu.
Nó đã từng được sử dụng rộng rãi trong thực phẩm, đặc biệt là trong các buổi
tế lễ, nơi mà các lễ vật phải được ướp muối để làm chứng cho sự lâu bền của
giao ước của Đức Chúa Trời.
“Các con
là muối của đất” có nghĩa là từ nay trở đi chúng ta được mời gọi là những chứng
nhân về lòng trung thành của Thiên Chúa và về giao ước của Người.
III.
Thái độ xứng với “là muối đất”.
a. Ý thức.
Khi nói
“Các con chính là…” Chúa Giêsu khẳng định rằng tất cả chúng ta đều là
con cái của Đấng “Ta là ”, rằng chúng ta thuộc về dòng dõi này, có
khả năng “tạo ra” sự hiện hữu, có khả năng “sáng tạo” ra điều mới mẻ, là những
tạo vật có khả năng thuộc về Chúa. Chính khi biết điều này, chúng ta có thể tìm
thấy lòng can đảm để lắng nghe sứ mệnh mà chúng ta được kêu gọi.
Tuy
nhiên, chúng ta dường như thiếu nhận thức về điều này, khi mà lời tuyên bố thiết
yếu này thường bị lãng quên mặc dù Chúa Giêsu đã đặt nó lên hàng đầu và lặp đi
lặp lại.
Sự chú ý
của chúng ta dễ dàng bị phân tán bởi những gì hữu hình, chúng ta háo hức muốn
biết về những quyền năng mà chúng ta được, bổn phận của mình, và những gì Chúa
làm để giúp đỡ chúng ta. Điều đó quan trọng và đúng. Nhưng đừng quên, tất cả điều
này chỉ có ý nghĩa trên nền tảng thiết yếu: con người tham gia vào bản chất của
Thiên Chúa cho phép họ nói, "Tôi hiện hữu."
Chúng ta
có thể nói điều này một cách bình tĩnh và khiêm nhường vì đó không phải là ơn
ban từ chúng ta; đó là ơn ban từ Thiên Chúa: Tôi là Linh mục, tôi là nữ tu, tôi
là….
Đồng thời,
"các con là", vừa mang ý nghĩa cá nhân, vừa mang ý nghĩa tập
thể. Từ "các con là" ở dạng số nhiều nhắc nhở tôi rằng tôi không cô
đơn, rằng những người khác cũng là "tôi là", và cùng nhau chúng ta tạo
thành một thân thể.
Chúng ta
cần nhau rất nhiều, và cần Chúa nhắc nhở chúng ta rằng đó chính là con người thật
của chúng ta.
Điều này
dạy chúng ta rằng chúng ta không cần phải thống trị người khác để đạt được điều
“tôi là”. Chúng ta cũng không cần phải xây dựng kim tự tháp để xứng đáng với điều
đó.
Chúa
Giêsu không bảo chúng ta phải mặn, hay phải rạng rỡ, hoặc thậm chí phải phản
chiếu ánh sáng. Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng bản chất của chúng ta là: muối
của đất và ánh sáng của thế gian.
b. Một sự
hiện diện thuộc về và cho đi.
“Anh em
là muối của đất”, trước hết, nghĩa là muối là thành phần tất yếu cấu tạo nên đất,
không thể hình dung một loại đất nào mà lại không có muối trong thành phần.
Sự hiện
diện của chúng ta, những môn đệ của Chúa Kitô, là một sự hiện diện tất yếu như
một thành phần không thể không có của cộng đoàn, của thế giới mà ta và mọi người
đang sống. Không thể hình dung một thế giới mà không có mặt người môn đệ.
Tiếp đến,
“Anh em là muối cho đất”, là sự hiện diện của người môn đệ không đơn giản là một
sự hiện diện bên cạnh bao sự hiện diện khác. Nhưng là một sự hiện diện cho người
khác trong môi trường sống hằng ngày.
Đây cũng
chính là sứ mạng của người môn đệ khi ở trong thế giới hôm nay. Hiện diện không
chỉ vì hiện hữu mà còn hiện diện vì một sứ mạng cho những hiện diện khác.
c. Sự hiện
diện vì bản chất.
Bản chất
của muối là mặn, nghĩa là ở đâu có muối thì chắc chắn ở đó có vị mặn của muối.
Hay nói cách khác, ở đâu có vị mặn, thì lập tức người ta nghĩa ngay đến muối,
dù không thấy muối hiện diện.
Chúng ta là muối của đất. Chúng ta được kêu gọi để làm
cho cuộc sống thêm hương vị, để gìn giữ và làm cho nó tốt đẹp hơn.
Cuộc sống cá nhân cũng như đời sống cộng đoàn của chúng
ta là nơi để truyền bá Tin Mừng, là nguồn làm chứng cho một thế giới tốt đẹp
hơn.
Trở thành muối của đất nghĩa là giữ gìn hương vị của đất!
Đó là trọng tâm lời dạy của Chúa Giêsu: rằng đời sống chúng ta phải giữ gìn
hương vị của Tin Mừng.
“Các con là muối của đất” có nghĩa là giờ đây chúng ta là
những chứng nhân chắc chắn về sự trung tín và giao ước của Chúa; là chúng ta
không che giấu và đức tin của chúng ta có thể được thể hiện rõ ràng, là để cho
bản thân được hướng dẫn bởi lời dạy của Chúa Kitô, là sống đức tin của mình một
cách công khai và tự do, để những người chưa biết Chúa Kitô và những lời dạy của
Ngài, có thể cùng khám phá ra chúng với chúng ta.
Đây là lý do tại sao đời sống Cộng đoàn và tại Nhà thờ lại
quan trọng. Nó cho phép chúng ta quy tụ lại để khích lệ lẫn nhau, để đón nhận
và chia sẻ Lời Chúa, để tái khám phá niềm yêu thích đức tin, cầu nguyện, mối
quan hệ của chúng ta với Chúa Giêsu Kitô, để luôn tràn đầy sức sống và có thể
chia sẻ niềm đam mê đó với thế giới!
Sự thờ phượng của chúng ta, cách chúng ta trải nghiệm với
và trong Giáo hội, những cuộc gặp gỡ và các mối quan hệ của chúng ta, là không
gian để chúng ta nuôi dưỡng trong mình niềm yêu thích Tin Mừng.
Để nuôi dưỡng điều này, điều thiết yếu thực sự là phải mở
lòng đón nhận Chúa Kitô. Đây là một trong những bản chất mặn của muối.
Ơn gọi của chúng ta với tư cách là muối của đất không dựa
trên bản thân chúng ta, mà dựa trên sức mạnh của Tin Mừng trong lòng chúng ta. Bởi
vì làm muối của đất đơn giản là mang lại những hoa trái của ân sủng. Không phải
chúng ta tạo nên hương vị cho Tin Mừng, mà chính Tin Mừng làm cho cuộc sống của
chúng ta thêm hương vị.
Muối không thể tự tạo! Nó chỉ có thể được đón nhận. Ân sủng
của Chúa cũng vậy. Nó không thể kiếm được hay xây dựng, nhưng được đón nhận như
một món quà, được đón nhận với lòng khiêm nhường và biết ơn, và được truyền lại
như một kho báu.
Và nếu Tin Mừng lan rộng khắp trái đất, nếu nó chạm đến tấm
lòng và biến đổi cuộc sống, thì đó là nhờ công việc của Chúa Thánh Thần trong
chúng ta và qua chúng ta. Đây là cách chúng ta trở thành muối của đất, bởi vì
chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu Kitô, Đấng có đời sống là muối cho đời sống
chúng ta!
Mỗi chúng ta ý thức bản chất của mình là gì? Và đang
sống như thế nào với bản chất đó?
Sự thường,
không thể có muối mà không có vị mặn. Nhưng tại sao Chúa lại nói đến: nếu muối
mà hết mặn? Đó chính là người môn đệ đánh mất bản chất căn tính của mình.
Một người
có chức thánh nhưng vẫn có nguy cơ đánh mất bản chất của người có chức thánh.
Và mất
đi vị mặn, tương ứng với việc nghi ngờ tính bền vững của giao ước, của lời khấn
và không còn giữ được chất lượng nội tại của muối.
Ở Palestine, vào thời Chúa Giê-su, muối dùng trong sinh
hoạt gia đình không được tinh chế lắm. Đó là một chất mặn từ Biển Chết, lẫn với
nhiều tạp chất. Để sử dụng, người ta phải pha loãng, loại bỏ các tạp chất dư thừa.
Đôi khi chất này chứa nhiều bụi hơn muối, khiến dung dịch gần như không có vị
và vô dụng, chỉ có thể đổ xuống đất. Chúa Giêsu dùng kinh nghiệm đời sống thường
nhật này để mời gọi chúng ta hãy chú tâm đến sự chính trực trong suy nghĩ và
hành động của mình.
"Muối
tốt làm nổi bật điều tốt lành nơi người khác và loại bỏ những gì có thể làm hư
hỏng họ; muối trở nên “vô vị” tìm cách làm nổi bật điều xấu xa nơi người khác,
để chế giễu họ, để hạ thấp họ, để đầu độc cuộc sống của họ.
d. Một sự
hiện diện chỉ cần hiện hữu.
Đặc tính
của muối là hòa tan, và chính đặc tính tính này làm nên giá trị và ý nghĩa cho
sự hiện diện của muối trong môi trường nó hòa tan.
Khả năng hòa tan làm cho muối như không hiện diện vì
không được nhìn thấy, nhưng qua vị mặn, giữ nguyên bản chất của mình, muối vẫn
được biết đến về chính sự hiện hữu của nó.
Đặc tính
này mời gọi chúng ta suy nghĩ về thái độ và cách sống của mỗi chúng ta trong sứ
vụ và ơn gọi của mình, trong những thử thách và những thành công nơi các sự kiện.
Muối có
đó nhưng không ai thấy muối. Không chỉ vì muối bé nhỏ khiêm nhường mà vì muối
phải tan biến đi. Phải tan biến đi muối mới có tác dụng. Vì thế, khi ví người
môn đệ như “muối”, Chúa Giêsu muốn ta sống trong ẩn khuất, khiêm tốn, phải hòa
tan “cái tôi” của mình, phải hủy mình ra không. Người muốn các môn đệ của
Người hiện diện thật kiêm nhường như những hạt muối bé nhỏ. Người muốn các môn
đệ của Người hiến thân mình cho nhân loại như những hạt muối hòa tan trong thực
phẩm.
Những
người sống đời thánh hiến càng sống khiêm tốn, nhỏ bé, kín đáo càng làm cho Nước
Thiên Chúa được phát triển, và ảnh hưởng của họ trên trần gian càng mạnh mẽ.
Đồng thời,
hòa tan cũng là lời mời gọi ta cho khả năng thích nghi với môi trường và con
người mà ta được gửi tới phục vụ và gặp gỡ: con người dễ sống, làm việc gì hay
cộng tác với ai cũng được, thì đó là một con người dễ chịu và cũng thật là dễ
thương.
Chúa
Giêsu khi nhập thể làm người thì Người nên giống chúng ta trong mọi sự (x.Pl
2,6-8), không hề có khác biệt, chỉ trừ tội lỗi, nhưng không thể không nhận ra sự
hiện diện của Người, đấng đã đến để làm cho chúng ta được sống và sống dồi dào
(Ga 10,10).
e. Sự hiện
hiện nhằm phát huy tác dụng.
Tác dụng
của muối là bảo vệ, gìn giữ. “Tác dụng”
của ta là gì ?
Sự hiện diện hòa mình vào môi trường sống của ta đang đem
lại điều gì ?
Nếu muối ở trong chai lo, nó sẽ sạch sẽ, khô ráo, trắng..
nhưng cho dẫu được thấy, cho dẫn hiện diện, nhưng nó không có ý nghĩa gì. Chỉ
khi muối bằng lòng cho người khác « đem mình » đi, đưa mình vào
những nơi hôi tanh, thì khi đó muối mới có thể phát huy hết ý nghĩa về sự hiện
diện của mình.
Người môn đệ khi không có khả năng thích nghi và thậm chí
không chịu dấn thân nơi môi trường mình sống và phục vụ, thì sự hiện diện của
mình cũng không có ý nghĩa gì về sứ vụ cùng nét đẹp của Hội Thánh, hội Dòng và
có khi làm ảnh hưởng xấu đến tên gọi là người môn đệ của Chúa.
Mỗi khi được thuyên chuyển, là ta được có cơ hội để sống
phận là muối đất với sứ vụ và môi trường được ủy thác, là làm đẹp thêm ý nghĩa
về một sự hiện diện độc đáo : hiện hữu vì người khác dẫu không hiện diện.
Đôi khi một số người nghĩ rằng, con đường mình đi phải là
con đường tránh khỏi mọi dính dáng đến xã hội và văn hóa toàn cầu. Nhưng một
khi ta xa lánh mọi thực tại của xã hội và thế gian, có nghĩa là chúng ta đang
thực sự để muối trong hũ. Để thực hiện sự khác biệt, chúng ta cần đứng lên và dấn
thân vào cuộc đời.
« Anh em là muối » cho biết rằng, nếu trong thế
giới ngày nay đang còn quá nhiều đêm tối và đắng cay, đó là do chúng ta đã thất
bại trong công việc của mình, là không trở nên muối trong thế gian. Nhưng không
sao, từ bây giờ, chúng ta có thể quyết định để thực hiện sự khác biệt. Chúng ta
có thể quyết định thắp lên một ngọn nến, còn hơn là ngồi mà cứ mãi nguyền rủa
bóng đêm. Hãy cứ thắp, cho dù với một cây nến nhỏ bé nhất, vẫn là hữu ích,
trong một thế giới đang ngập tràn tăm tối.
LOAN BÁO ĐỨC KITÔ NÀO?
§6: CHA NHƯ CHÍNH NGÀI LÀ.
1 V 19, 9a. 11–16
I. Bối cảnh
Điều gì
khiến ông phải chạy trốn?
Êlia là
một tấm gương về đức tin tích cực, trong sự phụ thuộc và vâng phục. Nhiều lần
Thiên Chúa đã bảo ông: “Hãy đi” (17:3, 9; 18:1), và ông đã đi; “Hãy trốn”
(17:3); “Hãy tỏ mình ra” (18:1, 2). Ông luôn làm “theo lời Chúa”, trước mặt
Chúa, ông đứng đó, cầu nguyện xin Chúa soi sáng ý muốn của Ngài và ban sức mạnh
để hoàn thành ý muốn đó. Nhìn về Chúa chứ không nhìn về chính mình, ông đã làm
chứng một cách đáng chú ý nhất. Và giờ đây, vào ngày sau chiến thắng trước bốn
trăm năm mươi ngôn sứ của thần Baal trên núi Carmel, ông giết họ. Đánh dấu thời
điểm Êlia đã đi quá xa, và vũ khí đức tin đã rơi khỏi tay ông trước lời đe dọa
của một người phụ nữ.
Và lần đầu
tiên, Êlia “đứng dậy và đi” mà không cần Chúa bảo ông: Hãy đi. “Ông đã đi để cứu
mạng mình.” Chẳng lẽ Chúa không thể giấu ông như Ngài đã làm ở Cơ-rít sao (x 1V
17,2-6)? Chẳng lẽ Ngài không thể đánh phạt Giêzabel sao? Và nếu lời đe dọa của Giêzabel
được thực hiện, thì đó chẳng phải là một vinh dự lớn lao khi được chết vì sự
nghiệp của Chúa sao?
Êlia
bỏ trốn khỏi chính những nơi mà lẽ ra ông phải phục vụ. Kẻ từng đứng trước đám
đông để thuyết phục người khác đi theo Chúa giờ lại tự cô lập mình khỏi mọi sự
tiếp xúc với con người. Cô đơn một mình trong sa mạc, mệt mỏi với cuộc sống mà
mình đang trốn chạy. Và ông nói với Đấng đã ban cho ông quyền năng làm cho hũ bột
và bình dầu của góa phụ không vơi: "Lạy ĐỨC CHÚA, đủ rồi! Bây giờ xin Chúa
lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con", thay vì lẽ ra
có thể nói: "Lạy Chúa, xin cho mọi người biết hôm nay rằng Ngài là Đức
Chúa Trời ở Israel, và con là tôi tớ của Ngài, và chính nhờ lời Ngài mà con đã
làm được tất cả những điều này". Ông bỏ ngang cuộc chiến, từ bỏ nhiệm vụ của
mình.
Chúng ta
có nhận ra thái độ này của Êlia nơi chúng ta không?
Tuy
nhiên, sự việc tiếp theo sẽ làm nổi bật phương thức hành động của Chúa, đó là sự
tinh tế và lời khuyên nhẹ nhàng hơn.
II.
Thiên Chúa, Đấng chăm sóc.
Đối với
Êlia dưới gốc cây kim tước, sự giúp đỡ của Chúa hiện diện, vì lòng thương xót của
Chúa không bao giờ cạn. Một thiên thần đánh thức ông: "Dậy và ăn đi."
Mọi thứ đã sẵn sàng; mọi thứ luôn sẵn sàng cho nhu cầu của chúng ta, nhưng liệu
chúng ta có hiểu được điều đó? Êlia đã bắt đầu mở mắt ra để thấy những gì mình
thiếu, nhưng ông vẫn cần phải học cách hiểu chính mình hơn nữa. Ông ăn, uống, rồi
lại nằm xuống, vẻ mặt ủ rũ và dường như thờ ơ với mọi thứ ngoại trừ việc không
thể quên đi nỗi buồn của mình. Lần thứ hai thiên thần đến với ông: "Dậy và
ăn đi, vì cuộc hành trình quá dài đối với ngươi."
Được hồi
phục, Êlia lên đường. Nhưng nên đi theo con đường nào? Ông không hỏi về điều
đó, cũng không cầu xin Chúa ở cùng ông suốt cuộc hành trình dài này: "Bốn
mươi ngày bốn mươi đêm, cho đến Hôreb, núi của Đức Chúa Trời. Và ở đó, ông vào
hang và ngủ qua đêm." Liệu Chúa có bao giờ sai ông đến Horeb, và để ẩn náu
ở đó không? Trên thực tế, ông đã đi theo con đường riêng của mình, con đường
theo ý muốn riêng. Nhưng dù không sai ông đi, Đức Chúa vẫn không quên người tôi
tớ đang sa ngã của Ngài.
Chẳng phải
chúng ta nhận ra trong điều này sự quan tâm đầy ân cần của Cha chúng ta sao, Đấng
đã nhiều lần, không ngừng chăm sóc chúng ta, để chúng ta tự do đi trên con đường
của mình chỉ để đưa chúng ta trở lại tỉnh ngộ vào thời điểm mà sự khôn ngoan và
lòng tốt của Ngài đã định? Ngài đã cho Êlia đủ thời gian để suy ngẫm và trở về
với chính mình.
Khi
không đặt "trước mặt Chúa" mà chỉ dựa vào bản thân, thì nhiều khi không
cần lời đe dọa nào; một lời chế nhạo cũng đủ để hạ gục chúng ta, một điều tầm
thường cũng đủ để quyến rũ chúng ta, một khó khăn cũng đủ để làm chúng ta bất ổn,
và rồi chúng ta hoàn toàn bị đánh bại, thất vọng, cay đắng, nghi ngờ người khác
và chính mình, cho rằng công việc của mình là vô ích bất chấp mọi nỗ lực. Chúng
ta thiếu đi cảm giác quyền năng được trọn vẹn trong sự yếu đuối.
Ta có cần
và ý thức tầm quan trọng của việc được Thiên Chúa chăm sóc như thế nào?
Êlia từng
mạnh mẽ, nhưng giờ lại: sợ hãi, trốn chạy, muốn buông xuôi. Điều này rất thật
cho đời sống chúng ta: Có lúc ta đang mạnh mẽ bỗng trở nên yếu đuối, thấy bất lực,
tinh thần suy sụp. Ta có thể dấn thân, làm việc, phục vụ Chúa không biết mệt;
Nhưng cũng có lúc kiệt sức, thất vọng, muốn chùn bước; Có lúc thấy đời tu trống
rỗng, cầu nguyện khô khan, sứ vụ nặng nề.
Thiên
Chúa không trách Êlia. Người khích lệ và chữa lành.
Thiên
Chúa đưa Êlia vào thinh lặng để ông gặp lại chính nguồn mạch của ơn gọi. Và Người
cũng đưa mỗi tu sĩ vào sa mạc nội tâm ấy để nghe rõ tiếng Chúa: “Ta ở đây.” Chỉ
ai đã sống thinh lặng, đã lắng nghe, mới có thể loan báo Chúa cách xác tín.
Êlia tìm
gặp Thiên Chúa và tìm lối thoát cùng sức mạnh tinh thần.
III. Thiên
Chúa, Đấng dịu hiền
Êlia đã
đi bộ trong 40 ngày và 40 đêm. Ông vào một hang động để nghỉ đêm. Sau đó, ông
nghe thấy một giọng nói phán với ông, "Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước
mặt Chúa, vì Ngài sắp đi qua." Khi
Chúa đến gần, có một cơn gió dữ dội xé toạc các ngọn núi và làm vỡ tan các tảng
đá. Nhưng Chúa không ở trong cơn gió. Sau đó, có một trận động đất. Nhưng Chúa
không ở trong trận động đất. Sau đó, có một đám cháy, nhưng Chúa không ở trong
đám cháy.
Đây là đức
tin của Êlia vào thời điểm đó: Ông đã muốn Chúa bày tỏ chính mình theo cách này
với Akhap và Giêzabel, bày tỏ chính mình dưới dạng một sức mạnh.
Nhưng lần
này, Kinh Thánh nhấn mạnh: Thiên Chúa không ở trong những biểu tượng quyền lực
đó.
“Sau ngọn
lửa, có tiếng gió nhẹ thổi qua. Vừa nghe thấy, Êlia liền che mặt…” Chúa mặc khải chính mình trong tiếng gió nhẹ
thì thầm. Đây là một sự mặc khải hoàn toàn mới mẻ từ Thiên Chúa dành cho Êlia: nhẹ
nhàng, êm dịu, gợi lên lòng nhân từ của Ngài đối với những ai giữ giao ước.
Êlia nhận
ra tiếng Chúa trong sự tĩnh lặng đó, phủ áo choàng che mặt, dấu hiệu tôn kính,
nhận biết mình đang đứng trước Đấng Thánh.
Chúng ta
sống trong thời đại đầy “gió bão – động đất – lửa” của tiếng ồn kỹ thuật số, lo
âu, áp lực, công việc và trách nhiệm, của cuộc sống với những xung đột, tranh
cãi, sợ hãi, thất bại, nhiều khi ta không nghe được tiếng Chúa. Thiên Chúa
không cạnh tranh với tiếng ồn. Người nói trong thinh lặng.
Êlia đến
gặp Chúa. Ông đứng trước sự hiện diện của Chúa với sự mong manh của chính mình,
với cuộc sống thực của mình, không một lớp mặt nạ. Ông bày tỏ tình yêu, nhưng
cũng bày tỏ tất cả nỗi thống khổ của mình.
Như
Êlia, chúng ta hãy dám thưa chuyện với Chúa, Đấng hiện diện với chúng ta, hãy
dám thổ lộ với Người về tình yêu, những thắc mắc, nỗi thống khổ của chúng ta,
hãy dám là chính mình với Người, hãy thưa chuyện với Người từ chính con người
chúng ta và những gì chúng ta trải nghiệm, ngay cả khi nhận thức của chúng ta về
thực tại vẫn còn chủ quan và khác biệt với nhận thức của Chúa.
Đồng thời,
đây là vinh dự và vinh quang của dân tộc được chọn khi đã ban cho sự mặc khải
này, mà họ, cùng với Êlia, là những người đầu tiên được hưởng. Điều này cũng
cho thấy chúng ta cũng được vinh dự trong sự dịu dàng như thế của Chúa. Hơn thế
nữa, chúng ta hãy sống theo hình ảnh Ngài bằng cách trở nên như "làn gió
nhẹ" trong hành động và lời nói của mình đối với những người xung quanh.
Người tu
sĩ, khi loan báo Tin Mừng, cũng được mời gọi: Không dựa trên hoạt động rầm rộ,
không cần những thành tích ồn ào, không phải bằng lời lẽ đầy sức ép, nhưng bằng
sự hiện diện hiền hòa phản chiếu Thiên Chúa. Thế giới cần những tu sĩ là: ngọn
đèn nhỏ chứ không phải spotlight; tiếng dịu dàng chứ không phải tiếng thét; ánh
sáng từ nội tâm chứ không phải sự thu hút bên ngoài. Người tu sĩ loan báo Thiên
Chúa bằng cách người ta gặp mình và cảm nhận: “Ở nơi người này, có sự bình an
không thuộc về thế gian.”
Khi người
tu sĩ để cho Chúa chạm đến, để cho Ngài đổi mới, họ sẽ trở thành một sự hiện diện
dịu dàng nhưng mạnh mẽ, có khả năng làm sống dậy hy vọng trong người khác. Và
chính bằng cách đó, người tu sĩ trở nên người loan báo Thiên Chúa, không phải bằng
điều mình làm, mà bằng chính con người mình thuộc về Chúa.
IV.
Thiên Chúa, Đấng sai đi.
Trong cuộc
gặp gỡ với Êlia, Đức Chúa đã hỏi: “Êlia, ngươi làm gì ở đây?”. Ta đã gọi ngươi
đến đây để phục vụ Ta sao? Vị tiên tri được sai đến với dân Ta để đem họ trở lại,
đang làm gì ở Hôreb?
Ông
thưa: “Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu
con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá hủy bàn thờ, dùng
gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt
để lấy mạng con.”
Chẳng lẽ
Chúa không biết tất cả những điều này sao? Giao ước bị bỏ rơi, bàn thờ bị đổ
nát, các tiên tri bị giết chết, Chúa không biết sao? Có phải đó là điều Êlia đến
đây để làm? Chúa sẽ nói cho ông biết phải làm gì, và Chúa đã làm gì. Nhưng trước
hết: “Hãy đi ra và đứng trên núi trước mặt Chúa.”
Theo và
phục vụ Chúa không phải chỉ để chất vấn, tra hỏi hay nói về những gì đang xảy
ra, nhưng là để đón nhận những sứ vụ, một ơn gọi, mà qua đó, ta sẽ thấy, sẽ hiểu
về những gì Thiên Chúa đã, đang và muốn làm.
Than
vãn, kể lể, thậm trí là trách móc…. đó có phải là điều ta thường làm hay đã từng
làm với Chúa và với nhau khi có những bất đồng ý kiến, khi có những sự cố và thất
bại?
Vào cuối
cuộc hành trình bốn mươi ngày bốn mươi đêm, trên Núi Horeb, Chúa đang đợi ông.
Phải mất toàn bộ cuộc hành trình dài này, Êlia mới nhận ra rằng ông đã không chọn
đúng con đường và có lẽ chính ông đã nhầm lẫn về Chúa: giống như những kẻ thù của
mình, ông đã tưởng tượng ra một Chúa quyền năng.
Sám hối
không bao giờ muộn, và thay đổi để sống đúng với Chúa thì không bao giờ là uổng
phí và sai lầm.
Chúa phục
hồi tinh thần Êlia bằng việc trao ba nhiệm vụ: Xức dầu Khazaên làm vua Aram; xức
dầu Giêhu làm vua Israel; xức dầu Êlisê làm ngôn sứ kế vị ông.
Thiên
Chúa không trách Êlia vì yếu đuối và sai lầm, nhưng chỉ cho ông thấy công việc
của Thiên Chúa vẫn tiếp tục, và ông vẫn có chỗ trong chương trình ấy.
Câu hỏi
được đặt ra trong đoạn văn không phải là về tội lỗi, mà chủ yếu là về phản ứng
đúng đắn trước lời kêu gọi đến từ Chúa. Làm thế nào để chúng ta thực hiện một
cách cụ thể sứ mệnh mà chúng ta đã nhận được từ Chúa?
Như Êlia
không phải chỉ hỏi rằng, "Tôi đã làm điều đúng đắn chưa?", mà còn phải
hỏi: "Tôi có thể làm mọi việc khác đi không?".
Điều gì
xảy ra khi chúng ta thất bại? Làm thế nào chúng ta đối phó với thất bại trong
cuộc sống của mình với tư cách là những người môn đệ?
“Ngươi đang
làm gì ở đây?” Cuộc trò chuyện tiếp tục không phải trong hang động sâu thẳm,
mà giữa ban ngày. “Ngươi đang ở trước mặt Đấng có toàn quyền trừng phạt theo sự
công chính của Ngài, nhưng động cơ tối cao của Ngài là ân sủng. Ngươi có hòa hợp
với điều này không, Êlia? Ngươi có yêu thương dân này, là những người thuộc về
Ta, như Ta yêu thương họ không? Ngươi có yêu thương họ như ngươi thấy Ta yêu
thương ngươi không? Ngươi có xứng đáng hơn họ để được Ta yêu thương không?”
§ 7. TOÀN NĂNG.
Lc
2,1-14.
I. Thiên
Chúa làm người.
- Chúa
nhập thể làm người đó sáng kiến của Chúa Cha, một sáng kiến tốt lành và đầy
lòng thương xót.
Đấng Tạo
Hóa của vũ trụ ở rất xa chúng ta.
Bạn đã
bao giờ tự hỏi: "Chúa Trời hẳn phải như thế nào, Đấng đã tạo ra tất
cả những điều bao là và vĩ đại trong vũ trụ và trong cuộc sống? Và Đấng nào có
thể hiện diện trong tất cả những điều này? Và Đấng nào có thể biết rõ từng người
trong chúng ta, khi có hàng tỷ người trên thế giới, chưa kể đến tất cả những
người đã sống trước chúng ta và những người mà Ngài cũng biết đến?"
Thượng Đế
vô cùng vĩ đại và ở rất xa chúng ta. Đó thường là ấn tượng đầu tiên khi ta nghĩ
về điều đó.
Chúa
trong tình trạng hoàn toàn phụ thuộc.
Nhưng rồi
một trải nghiệm đáng ngạc nhiên: “Đức Chúa tự hạ mình” Câu nói này thật
khó tin. Trong đêm ở Bêlem, mang một ý nghĩa hoàn toàn mới. Sự khiêm nhường của
Đức Chúa trở thành một hiện thực đáng kinh ngạc và trước đây không thể tưởng tượng
nổi. Ngài tự hạ mình, Ngài đến, như một đứa bé, vào cảnh khốn khổ trong chuồng
gia súc, một biểu tượng của sự nghèo khó.
Chúa thật
sự giáng thế. Ngài trở thành một đứa trẻ và đặt mình vào trạng thái hoàn
toàn phụ thuộc. Đấng Tạo Hóa, người nắm giữ mọi thứ trong tay, người mà tất cả
chúng ta đều phụ thuộc vào, tự hạ mình xuống và cầu xin tình yêu thương
của con người.
Chúa ẩn
mình trong sự nghèo khó của đứa trẻ đang cần tình yêu thương. Không gì cao cả
hơn, vĩ đại hơn tình yêu, thứ tình yêu tự hạ mình và trở nên phụ thuộc như vậy.
Nếu muốn nhìn thấy Chúa, chúng ta phải mở mắt tâm hồn mình trước máng cỏ ở
Bêlem.
Sự xuất
hiện thầm lặng tiếp diễn qua nhiều thế kỷ.
Sự hiện diện của Thiên Chúa tại Bêlem diễn ra trong im
lặng. Chỉ những người chăn chiên tỉnh thức mới được đắm chìm trong ánh hào
quang rạng rỡ của sự xuất hiện này.
Sự hiện diện thầm lặng của Thiên Chúa tiếp tục xuyên suốt
các thế kỷ. Ở bất cứ nơi nào có đức tin, bất cứ nơi nào Lời Ngài được rao giảng
và tuân theo, Thiên Chúa quy tụ con người và hiến dâng chính mình cho họ trong
Thân Thể Ngài, biến đổi họ thành Thân Thể Ngài. Trong đức tin nơi Ngài, chúng
ta nhận được sự sống. Trong Bí tích Thánh Thể, Ngài hiến dâng chính mình cho
chúng ta.
Chúa “đến”,
và như vậy, trái tim con người thức tỉnh?
Với thân
phận là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã chấp nhận bước vào lịch sử nhân loại với
tất cả mọi chiều kích, để ôm lấy và cứu rỗi chúng ta.
Chúa
Kitô, “Đấng đến để phục vụ và hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc
cho nhiều người.” Điều đó cũng có nghĩa là phá bỏ mọi rào cản và sự loại
trừ giữa chúng ta, bởi vì Chúa Kitô, Đấng là sự bình an của chúng ta, đã đến để
cứu rỗi và quy tụ những con cái tản lạc của Chúa. Thông điệp kêu gọi chúng ta
đón nhận Chúa vào cuộc sống của mình và đón nhận nhau, trong Con Ngài là Chúa
Giêsu Kitô.
II.
Thiên ở giữa chúng ta.
Khi Thiên Thần báo với các mục đồng về Đấng được sinh ra
là Đức Kitô, là xuất thân từ dòng dõi vua Đávít, là Chúa…, những danh xưng này,
thì ngay các tông đồ chỉ có thể hiểu và tin nhận sau khi Chúa từ cõi chết sống
lại. Thế nên lời loan báo không chỉ nhắm đến sự hiểu biết và tin nhận của con
người, mà tiên vàn là nói đến chính sứ vụ của Chúa Giêsu, Đấng sẽ nói, sẽ dạy
chúng ta ý thức và xác tín có Thiên Chúa, một Thiên Chúa yêu thương, hiện diện
và ban ơn cứu độ cho chúng ta.
Tin vui
đầu tiên là những người chăn chiên không cần phải làm gì để ơn cứu rỗi đến; ơn
này được ban cho thế giới như một món quà, thậm chí, có trước khi những người
chăn chiên xuất hiện trong câu chuyện. Vấn đề chỉ đơn giản là đi tìm theo sự hướng
dẫn, và sống từ nguồn sống tuyệt vời này.
Tất cả đều
tốt đẹp, nhưng làm thế nào để chúng ta biến ơn cứu rỗi này "có hiệu lực"
và mang lại cho chúng ta cuộc sống tốt đẹp đã được hứa hẹn?
Hãy đón nhận và dành chỗ cho Chúa Giêsu trong trái tim và
cuộc sống của mình, hãy để cho bản thân được uốn nắn bởi Ngôi Lời nhập thể, hầu
cho chứng nhân đời sống Kitô giáo của chúng ta phản ánh trọn vẹn hơn đời sống của
Chúa Giêsu.
Mầu nhiệm
Giáng sinh, là cơ hội tuyệt vời cho mỗi Kitô hữu để tái khám phá đức tin như một
cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu, một kinh nghiệm cụ thể biến đổi, như đã xảy
ra với Giakêu, người phụ nữ tội lỗi, và người phụ nữ Samari, và biến ta thành một
chứng nhân đích thực.
Chúng ta
đang chấp nhận và xét mình về việc để ánh sáng của Ngôi Lời Vĩnh Hằng soi sáng
những bóng tối trong cuộc sống mỗi người và biến đổi chúng để ta có thể trở
thành những chứng nhân sống động của Chúa Giêsu Kitô giữa lòng thế gian?
Tại
Bêlem, không có chỗ cho Giuse và Maria khi Chúa giáng sinh. Trong thế giới ngày
càng thế tục hóa của chúng ta, cũng không còn chỗ cho Thiên Chúa; đây là vương
quốc của nhân loại không có Thiên Chúa, một thế giới nơi nhân loại tìm cách xây
dựng hòa bình, xây dựng thế giới và hạnh phúc của riêng mình mà không có Thiên
Chúa. Trong bối cảnh này, không có gì đáng ngạc nhiên khi xã hội và thế giới của
chúng ta ngày càng chìm sâu vào bạo lực (các cuộc tấn công khủng bố, tội ác tàn
bạo), sự bóc lột người nghèo, lạm dụng quyền lực và đủ mọi điều ác.
Chúng ta
cần phải nói rõ: mọi việc mà nhân loại làm mà không có Chúa đều chắc chắn sẽ dẫn
đến thất bại hoặc những hành vi lạm dụng làm tổn hại đến phẩm giá con người.
Chúng ta
còn ý thức đến sự hướng dẫn của Chúa, thể hiện và minh chứng về lòng thương xót
của Ngài hay không?
Thiên
Chúa đến với ai?
Hình ảnh
người mục tử chăn chiên cừu được nhắc đến trong bài Tin mừng, gợi lên cho chúng
ta hai loại người.
Thứ nhất,
mục tử hiểu theo nghĩa mặt chữ và hoàn cảnh hiện tại thời Chúa Giêsu, thì đó là
những thành phần, vì công việc là phải ở với đoàn chiên, có khi ở đồng cỏ, có
khi là trong chuồng, để bảo vệ chúng, nên rất thường họ khó và không thể đến hội
đường vào ngày Sabat để học giáo lý…, cũng như không thể lên Giêrusalem theo luật
dạy. Vì vậy họ là loại người: ô uế, không hiểu biết nhiều về Kinh Thánh, giáo
lý…, nhất là không thánh thiện.
Và hôm
nay Chúa đã đến với họ. Thiên Thần được sai đến báo tin vui và chỉ cho họ đến để
được thấy, được thuộc về Chúa Hài Đồng.
Chúa được
tôn vinh bởi sự hiện diện của họ, và hài nhi sẽ dành cả cuộc đời mình để chào
đón họ và khôi phục phẩm giá của họ.
Ai trong
chúng ta cũng đã và đang có những điểm giống như những anh mục đồng, vì thế,
Chúa cũng đến với chính ta đó. Và ta đã có thái độ như thế nào với lời thông
báo trọng đại này? Đặc biệt là thông báo có ảnh hưởng và được ta nhớ đến khi
nào, phải chăng chỉ là mùa vọng và Giáng sinh?
Thứ hai,
mục tử hiểu theo nghĩa Kinh Thánh, đó là những người có trách nhiệm với đàn
chiên, một trách nhiệm mà nếu không cẩn thận thì có thể làm “chết” đàn chiên,
và hôm nay, Chúa đến với người mục tử để không chỉ hướng dẫn mà còn ban cho họ
khả năng đem sự sống, bình an và hiệp nhất cho đàn chiên.
Mỗi
chúng ta cũng là những mục tử, hiểu theo nghĩa là có trách nhiệm với người
khác, với nhau, …. Như thế, Chúa cũng muốn đến với mỗi chúng ta trong chính
trách nhiệm của ta, và ta đã có thái độ ra sao?
Thánh
Luca, trong Phúc Âm của mình, đã cho chúng ta thấy sự tương phản giữa Caesar
Augustus, vị hoàng đế nổi tiếng nhất trong lịch sử La Mã được Viện Nguyên lão
phong tước hiệu "Augustus", trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là "đáng
được tôn thờ”, người thống trị thế giới, và Chúa Giêsu, sinh ra trong nghèo
khó, một đứa trẻ yếu đuối, Hoàng Tử Hòa Bình.
Chúa đảo ngược mối quan hệ giữa Đấng Tạo Hóa và tạo vật.
Chúng ta không còn chỉ phải cúi đầu tôn kính trước Ngài nữa, mà chúng ta còn phải
ôm lấy Ngài bằng cử chỉ yêu thương.
Caesar Augustus hay Chúa Giê-su! Một sự lựa chọn vẫn đúng
cho đến ngày nay.
III. Nhận
biết Chúa.
Vì vậy,
chúng ta, những người chăn chiên đang canh giữ trong đêm tối của thế gian, nhận
được hai điều soi sáng cho chúng ta trên con đường cứu rỗi của Chúa:
Điều đầu
tiên là "đừng sợ hãi ". Mặc dù có hàng ngàn lý do để sợ
hãi. "Đừng sợ hãi " này là hiệu quả đầu tiên của lời cầu
nguyện: cảm thấy được bảo vệ, được bảo vệ vô điều kiện, trên hết thảy mọi thứ.
Điều này mang lại sự can đảm và tự do.
Ai trong
chúng ta đã từng không “sợ hãi”? và khi đó ta đã và sẽ làm gì?
Món quà
thứ hai mà những người chăn cừu nhận được từ thiên thần là một manh mối giúp họ
tiến xa hơn trong cuộc tìm kiếm sự cứu rỗi, điều đang chờ đợi họ và mang đến
cho họ niềm vui. Nó giống như một tấm bản đồ kho báu mà người ta có thể bất ngờ
tìm thấy được giấu trong một món đồ nội thất cổ. Thông điệp này nói rằng: “Đây
là dấu hiệu dành cho các ngươi: các ngươi sẽ tìm thấy một hài nhi sơ sinh được
quấn trong tã lót và nằm trong máng cỏ”
“Một
dấu hiệu”: điều này mời gọi chúng ta ý thức rằng: trong mọi sự luôn có những
gì ẩn sau bề mặt của sự vật, của thế giới và của các sinh linh. Vì thế, ta phải
biết đọc, để hiểu, để nắm bắt ý nghĩa, thực tại sâu thẳm. Đó là điều chúng ta
đang cố gắng làm nhưng không phải bởi sức của riêng ta mà thôi, nhưng còn bởi sự
cộng tác và giúp đỡ của những người khác (thánh Giuse, Đức Mẹ, các Thiên Thần,
hay ngược lại, Đức Mẹ, Thánh Giuse cũng nhận được sự khai sáng từ những lời tường
thuật của mục đồng), đặc biệt là bởi chính ơn Chúa.
“Các
ngươi sẽ tìm thấy ”: đây là lời mời gọi tìm kiếm,
và lời hứa rằng chúng ta sẽ tìm thấy. Không có điều kiện nào về lòng mộ đạo, sự
khôn ngoan, tài giỏi, hay việc tuân thủ tôn giáo, chỉ đơn giản là tìm kiếm, với
lời hứa rằng Chúa Giêsu sẽ phán: “ai tìm thì gặp, ai gõ cửa thì cửa sẽ mở ”
(xMt 7,8)
Thật vậy,
không có gì buồn hơn một người không tìm kiếm điều gì. Tìm kiếm là bản chất của
sự sống. Tìm kiếm nguồn sống mà Chúa ban cho chúng ta là điều mà tâm hồn con
người khao khát sâu thẳm bên trong.
“Bạn
sẽ thấy một Hài Nhi được quấn tã nằm trong máng cỏ” Trên thực tế, điều
này rất phổ biến. Khi mới sinh, chúng thường được quấn tã, đó là điều tối thiểu
có thể làm, sau đó được đặt trong nôi hoặc bất cứ thứ gì có sẵn để giữ chúng
không bị bỏ rơi trên sàn nhà, hoặc trên bàn nơi chúng có thể bị ngã. Vậy tại
sao? Có ý nghĩa gì?
“một đứa
trẻ”
Đừng tuyệt
vọng nếu cuộc sống của chúng ta không hoàn hảo, đức tin nhỏ bé, nếu trong lòng
ta có bệnh tật, mệt mỏi, nặng nề hay bóng tối. Sâu thẳm trong mỗi chúng ta ẩn
chứa một điều kỳ diệu. Bản thể của chúng ta có một chiều kích thiêng liêng,
ngay cả khi chỉ là một đứa trẻ sơ sinh bé nhỏ. Và điều đó thay đổi mọi thứ.
Vấn đề
không nằm ở số lượng, mà là ở chất lượng của sự tồn tại. Một “đứa trẻ” sơ sinh
đại diện cho điều gì trong toàn bộ dân số của Đế chế La Mã? “Đứa trẻ” này so với
Caesar Augustus, vị hoàng đế cai trị một phần lớn thế giới thì như thế nào? Thế
nhưng, “Đứa trẻ” này sẽ thay đổi bộ mặt thế giới; sẽ truyền cảm hứng cho
hàng tỷ người 2000 năm sau đó.
Đó là dấu
hiệu của một phẩm chất thiêng liêng bên trong chính chúng ta, và bên trong người
bên cạnh chúng ta. Nhưng để nhận ra điều này, chúng ta cần phẩm chất của người
chăn chiên, sự chú tâm đến từng cá nhân; chúng ta cần sự nhạy bén với hơi thở của
Chúa, điều dẫn dắt chúng ta tìm kiếm chiều kích thiêng liêng và nhận ra nó
trong chiều sâu của nó.
Một đứa
trẻ được quấn tã.
Dấu hiệu
thứ hai là đứa bé này đang được che chở, bảo vệ và chăm sóc. Dấu hiệu này được
nhận biết bởi đức tin: bất chấp mọi khó khăn, điều tốt đẹp nhất trong chúng ta
vẫn luôn được giữ gìn và bảo vệ bởi Đấng đã ban cho chúng ta sự sống. Chúa đã
ban cho chúng ta món quà được làm con cái của Ngài, và vì vậy Ngài quan tâm đến
chúng ta và sẽ luôn luôn che chở chúng ta. Mọi chuyện đơn giản là như vậy.
Như Mẹ
Maria đã quấn tã cho con mình, với sự giúp đỡ của Chúa, chúng ta hãy chăm
sóc tâm hồn mình, nhất là vì chúng rất mong
manh và vô cùng quý giá. Chúng ta hãy nâng niu bản chất thiêng liêng, nhân cách
quý báu của mình, đừng để nó bị tổn thương hay nguội lạnh bởi những giông bão của
cuộc đời. Và chúng ta hãy chăm sóc những người được giao phó cho chúng ta, như
một người chăn chiên.
Mẹ Maria quấn tã cho Hài Nhi. Hãy xem Đức Mẹ “chăm sóc” Chúa như thế nào. Chúng ta
cũng hãy mạnh dạn chăm sóc “cho Chúa”. Hãy cầu xin Đức Mẹ cho phép chúng
con được ôm Người vào lòng.
Nếu
chúng ta làm như vậy, chúng ta có thể cảm nhận sâu sắc hơn rằng Chúa cần chúng
ta, cần sự quan tâm và chú ý của chúng ta.
Điều này
cũng có thể thách thức nhận thức của chúng ta. Vốn quen với việc mong muốn Chúa
chăm sóc mình, thì ở đây chúng ta thấy Ngài cần chúng ta.
Đó là bước
vào đời sống tâm linh trưởng thành, một đời sống cho đi và cống hiến hết mình
sau khi đã nhận được rất nhiều.
Trong
máng cỏ.
Đây là một
dấu hiệu quý giá vì nó cung cấp cho chúng ta cẩm nang hướng dẫn về sự cứu rỗi
mà Chúa đã ban cho chúng ta trong Chúa Kitô.
Khi ăn
xúc xích, chúng ta không đột nhiên biến thành lợn, chúng ta cũng không biến
thành như những gì ta ăn. Nhưng những thực phẩm này cung cấp cho chúng ta
protein và vitamin cần thiết để phát triển, giữ gìn sức khỏe và tự do hơn trong
việc theo đuổi đam mê của mình.
Chúa
Kitô cũng vậy; Ngài không phải là điều cần chấp nhận như một sự ràng buộc giam
cầm chúng ta trong sợ hãi hay sự phục tùng. Nhưng Ngài giống như nguồn nuôi dưỡng,
cho phép chúng ta, với tư cách là con cái của Chúa, phát triển và thịnh vượng.
Thật ngạc
nhiên khi nói rằng Hài Nhi được đặt nằm trong máng cỏ, là nơi để thức ăn cho động
vật.
Trong Bữa
tiệc Ly, Chúa Giêsu phán: "Hãy cầm lấy mà ăn, đây là Mình Ta ban cho các
con." Mình Ta đã ở đó rồi, trong máng cỏ, để làm lương thực cho sự sống.
Nhìn ngắm
Chúa trong máng cỏ và nhìn ngắm Ngài khi Ngài cầm lấy bánh trong Bữa Tiệc Ly. Từ
Lễ Giáng Sinh đến Bữa Tiệc Ly, từ Bữa Tiệc Ly đến Lễ Giáng Sinh. Để thấy Thiên
Chúa hiến dâng chính mình.
Bước vào
thái độ sẵn sàng đón nhận: Nhận lãnh từ Ngài. Đáp lại bằng cách muốn chăm sóc Người.
Sự tương tác qua lại trong một tình bạn đích thực. Và đó là lý do tại sao chúng
ta tạ ơn Chúa mỗi ngày.
Lời Chúa
và Thánh Thể là một bàn tiệc được dọn sẵn trước mặt chúng ta. Việc ăn một chút
mỗi ngày thật dễ chịu và có lợi, cả cho thân thể lẫn tâm hồn. Tất cả được ban
cho chúng ta như nguồn nuôi dưỡng cho sự tồn tại của chúng ta, cho niềm hy vọng
của chúng ta, cho lòng tin tưởng của chúng ta vào Chúa, cho khả năng yêu thương
của chúng ta.
§ 8.
BÌNH AN.
Ga 4,5-42.
I. Bất an.
Trong Phúc Âm, những
hoàn cảnh bình dị nhất thường mang đến cơ hội cho những lời dạy sâu sắc nhất.
Hôm nay, Chúa Giêsu mệt mỏi sau cuộc hành trình trong sa mạc, và giữa trưa,
Ngài nói với người phụ nữ Ngài gặp bên giếng Giacóp: "Cho tôi uống nước."
Còn gì tự nhiên hơn việc xin nước uống? Chúa Giêsu chắc chắn dường như là một
người "giống như chúng ta," người đã từng biết đến sự mệt mỏi, gánh
nặng của một ngày dài và cái nóng.
Có một người phụ nữ ở
đó (có lẽ không phải ngẫu nhiên). Bà ta có đủ dụng cụ để múc nước (một cái
bình, một cái túi da, một sợi dây thừng) và do đó có một loại ưu thế nào đó đối
với người qua đường nghèo khổ này, một ưu thế mà bà ta có lẽ sắp sửa lợi dụng.
Chúa Giêsu xin nước uống: Ngài thừa nhận nhu cầu này và khẩn cầu chúng ta cùng
chia sẻ. Ngài đặt mình vào vị thế dễ bị tổn thương. Ngài hướng lời thỉnh cầu
của mình đến một người phụ nữ, một người ngoại quốc, do đó phá vỡ sự thận trọng
của những điều cấm kỵ: phân cách nam giới và nữ giới; chia rẽ người Do Thái và
người Sa-ma-ri.
Người phụ nữ Samaria
này là hiện thân của nhân loại bị bỏ mặc cho chính mình, nạn nhân của sự hỗn
loạn và tội lỗi. Đây quả thực là hậu quả của tội nguyên tổ trong chúng ta: nó
kết án chúng ta vào sự hỗn loạn, hỗn loạn về tình yêu và hỗn loạn về tôn giáo;
nó giữ chúng ta trong trạng thái khát khao không nguôi; nó ngăn cản nhân loại,
dù nam hay nữ, đạt được sự trọn vẹn của tình yêu mà họ được tạo ra, và mà sự
khao khát khiến họ chết vì khát.
Ngoài ra còn có sự
chia rẽ giữa người Do Thái và người Samari. Trong lịch sử Vương quốc
Israel, một sự rạn nứt cổ xưa đã chia cắt cư dân của vùng đất phía bắc và phía
nam. Mặc dù họ có chung tổ tiên, hậu duệ của dân tộc được chọn trong Abraham,
nhưng một cuộc xung đột đáng kể đã chia rẽ hai dân tộc này. Sự rạn nứt này thể
hiện ở cách thức thờ phượng được thực hành ở Giêrusalem hoặc trên núi Garidim,
núi thánh của người Samari, một sự chia rẽ mà ở nhiều khía cạnh dường như không
thể vượt qua, và vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Một sự bất an trong một đất
nước.
Người phụ nữ bất an
trong một đất nước chia rẽ, bất an trong một gia đình không trọn vẹn, và bất an
nơi chíng con người của mình với những bất toàn và tội lỗi
Mỗi chúng ta có ý thức
và nhận hoàn cảnh “bất an” trong mình không?
Nhưng Chúa Giêsu không
phải là người "giống như chúng ta" bởi vì, mặc dù Ngài đã mang lấy
bản tính con người tương tự như chúng ta, Ngài vẫn là Ngôi Lời của Đức Chúa
Trời, Con được sinh ra từ Đức Chúa Cha từ muôn đời. Vì vậy, khi Chúa Giêsu thốt
ra những lời tưởng chừng như bất an: "Cho Ta uống nước", chính Đức
Chúa Trời, trong Chúa Kitô, đã mặc khải cho chúng ta điều gì đó về mầu nhiệm
của Ngài, và cả mầu nhiệm của chính chúng ta.
Chúa cố gắng khiến
người phụ nữ suy ngẫm về cơn khát của chính mình, về sự bất an của chính chị.
Chị cần nước, điều đó là chắc chắn rồi, nhưng sâu thẳm trong lòng, chị bất an.
Một khát vọng mà chị không thể thỏa mãn, điều luôn khiến chị thất vọng.
Một Chúa không ngừng
khao khát và khơi dậy cho ta con đường bình an, nhưng liệu ta có muốn gặp Người
không?
Trước hết, Người phụ
nữ liên tục tìm cách khước từ đối thoại cách chân thành, nên chị vẫn bất an.
Quả thế, câu nói của
người phụ nữ: "Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari,
cho ông nước uống sao?"
“Thưa ông, ông
không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng
lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Giacóp, người đã cho chúng tôi giếng này?
Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng
vậy.”
Người bảo chị
ấy: “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” 17 Người phụ
nữ đáp: “Tôi không có chồng.”
Một lần nữa, cuộc gặp
gỡ có thể bị phá hỏng, bởi vì đề nghị của Đức Giêsu đã không được đón nhận.
Chúa sẽ chất vấn tấm
lòng ta: tại sao lại có những thất bại trong tình yêu thương này? Tại sao khát
vọng của Chúa luôn bị cản trở?
Chúa Giêsu biết ta,
Người không phán xét, nhưng Ngài tìm cách giúp ta nhìn rõ hơn, đào sâu hơn vào
nguồn gốc của khát vọng ta mong muốn. Vì Người khát khao ta, một khát khao mãnh
liệt để giải thoát ta khỏi sự thờ thần tượng, để cứu rỗi ta bằng tình yêu của
Người, đưa ta đi vào bình an.
II. Gặp gỡ với Đấng
Bình An.
1. Trong khao khát bình an.
Rất may cho người phụ
nữ trong cuộc gặp gỡ này. Bởi, thứ nhất: từ chính Chúa, Đấng thể hiện và thi
hành sự khao khát bình an cho nhân loại của Chúa Cha.
Quả vậy, để trở lại
miền Galilê, Đức Giêsu phải băng qua miền Samari. Không phải là Đức Giêsu và
các môn đệ không còn cách nào khác ngoài cách băng qua Samari, một miền đất nổi
tiếng là không hiếu khách (x. Lc 9,51-56). Sự “buộc phải", mang tính thần
học và thiêng liêng, vì thuộc về chương trình của Thiên Chúa, sẽ tạo cơ hội cho
cuộc gặp gỡ.
Đồng thời, khi đối
diện với sự “cứng lòng” của người phụ nữ, nhưng Đức Giêsu kiên nhẫn tiếp tục.
Người tìm cách gợi lên nơi bà khát vọng chân thật sẽ đưa bà đến chỗ quay hướng
về Người, như quay về với Đấng duy nhất có thể thỏa mãn điều bà đang đi tìm.
Thứ hai, mặc dù lại
gặp một thất bại, Đức Giêsu không nản lòng, không dừng lại, Người vẫn tiếp tục
bằng cách dựa trên sự mở lòng “nửa vời” của người phụ nữ. Chúa thấy nơi người
phụ nữ có cái gì đó “muốn” nói chuyện, đối thoại với Chúa.
Chúng ta có thật sự
muốn bình an không? Thế giới hôm nay có thật sự muốn bình an không?
2. Trong những giá trị
thiêng liêng.
Cho dẫu có những cản
trở, nhưng Đức Giêsu lại có sáng kiến bỏ qua cuộc tranh luận về các quy luật xã
hội tôn giáo, mà trả lời: "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là
người đang nói với chị: cho tôi chút nước uống…”, Đức Giêsu còn nhắm một đề tài
lớn hơn. "nước ân sủng". Bằng cách đó, Người muốn lôi kéo sự chú ý
của người phụ nữ vào điểm mà lễ ra bà phải hiểu, nghĩa là lẽ ra bà không được
lẫn lộn hai yếu tố: một bên là nước cụ thể và vật chất, và bên kia là nước hằng
sống, ân ban hoàn toàn đặc biệt.
"Nước" mà
Đức Giêsu nói đến thì cao trọng hơn là nước thiên nhiên, nước kín từ giếng lên.
Còn phải hiểu ngầm một điều song song khác, đó là nước mà Đức Giêsu hứa ban thì
cao trọng hơn nước các tổ phụ đã ban; như vậy, mạc khải của Đức Giêsu về phẩm
chất, thì cao trọng hơn mạc khải của các tổ phụ.
Vậy điều đầu tiên là
làm cho bà hiểu rằng có hai loại nước: loại thứ nhất là nước tự nhiên của
giếng, không thể làm cho hết khát, và loại thứ hai, nước mà Người sẽ ban, sẽ
giải khát hoàn toàn. Hơn nữa, loại nước thứ hai còn biến kẻ uống thành một mạch
nước trào dâng. Đàng khác, Đức Giêsu muốn đưa bà chuyển đi từ ân ban đến Đấng
ban ơn, là chính Người.
Ta thấy rõ trên bình
diện biểu tượng, trọn con đường mà người phụ nữ phải trải qua: khởi đi từ cái
giếng Giacóp (x. St 24), bà phải đi lên tới tận nguồn nước hằng sống, là chính
Đức Giêsu. Đây hầu như là lời Loàn báo chương trình mà bài tường thuật sẽ phải
rảo qua.
Trong hành trình chúng
ta đi, thì đừng để những yếu tốt vật chất và tự nhiên níu kéo, nhưng ta phảib
ước đi và bước tiếp trên con đường thiêng liêng.
Đời dâng hiến của
chúng ta còn có lời khấn, có linh đạo, có ác Bí Tích… là những giá trị tuyệt
vời cho ta trong mọi biến cố.
3. Trong chính Đấng
Bình An.
Đối thoại lại chuyển
sang một hướng khác hẳn. Không úp mở, Đức Giêsu bảo bà đi gọi chồng lại đây.
Qua câu nói này, Đức Giêsu nắm lại phần chủ động trong đối thoại.
Người phụ nữ Samari
phản kháng lần cuối: “Tôi không có chồng!” Và điều đó là sự thật: vì chưa biến
nhu cầu yêu thương của mình thành bình an đích thực, bà đã hết chồng này đến
chồng khác một cách vô ích: không ai có thể làm bà thỏa mãn hay dẫn dắt trái tim
bà đến bình an.
Và giờ đây, Chúa Giêsu
đã bày tỏ điều đó cho bà. Người phụ nữ tưởng rằng mình nắm giữ khát vọng của
đàn ông “trần trụi và nghèo khó”, nhưng kỳ thực bà đang lệ thuộc vào chính
“Người nghéo khó” này, và ngay lập tức, từ trong lòng bà đã thú nhận không mập
mờ rằng bà không có chồng. Đức Giêsu trân trọng sự chân thành đó. Nhưng Người
cho bà thấy khả năng hiểu biết đặc biệt của Người khi nói rằng bà đã có năm đời
chồng.
Đã thế, Người còn nói:
"Hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị". Nếu nói Đức
Giêsu đã cư xử thiêu tế nhị và lịch sự, là chúng ta phán đoán với các tiêu chí
của chúng ta hôm nay. Thật ra, khi nói như thế, Đức Giêsu đã cư xử như các ngôn
sứ Cựu Ước, có khả năng đọc trong tim người đối thoại.
Chúa biết thật bên trong,
nhưng Chúa vừa chờ đợi các thật bên trong đó tự ta nói ra, vì Chúa tôn trọng tự
do của ta; Chúa cũng vừa khẳng định việc Chúa biết tất cả cũng không để phơi
bày, để kết án, tố cáo và loại trừ, nhưng là để cảm thông, chia sẻ và nhất là
hướng dẫn ta hành động gì để đến được bình an.
Hành động này của Chúa
cũng là lời chất vấn chúng ta trong tương quan với nhau, nhất là với những
người đang bất an vì những sai lầm của họ, và ta đã đang vả sẽ làm gì?
Người phụ nữ không mất
tinh thần. Bà nhận ra chiều kích ngôn sứ. Đây không phải là một cuộc xưng thú
tội lỗi ép buộc, nhưng là một bước đi tới sự thật, nhờ đó người phụ nữ cảm thấy
được giải thoát khỏi quá khứ của bà. Sự thật và sự rõ ràng của cuộc gặp gỡ đòi
hỏi sự trong suốt này. Bây giờ bà hướng về hiện tại và tương lai một cách mới
mẻ, và hậu quả là bà tuyên xưng Đức Giêsu là một ngôn sứ.
Ở đây có hai chuyển
động đồng thời: một đàng, người phụ nữ xưng thú tình cảnh thực tế của mình;
đàng khác, việc xưng thú này giúp bà nhận biết chân tính của Đức Giêsu. Như
vậy, bà đã thực sự chuyển sang một bình diện khác và bắt đầu nhìn các sự việc
dưới một góc độ được mở ra.
Đức Giêsu là Đấng có
khả năng giúp chúng ta khám phá ra mọi chiều kích và ý nghĩa đích thực của cơn
khát đang dày vò lòng dạ chúng ta. Người là Đấng duy nhất có thể tố giác những
phương tiện tạm bợ chúng ta vẫn đang vận dụng để đánh lừa cơn khát ấy hoặc thỏa
mãn nó cách rẻ tiền. Người sẽ dạy chúng ta biết cách sống và làm cho từ lòng
chúng ta trào vọt ra dòng suối ân huệ của Thiên Chúa.
Lúc đó khoảng giữa
trưa: tại sao Gioan lại chỉ rõ thời gian? Ở một đất nước nóng bức, đó không
phải là thời điểm để đi lấy nước; liệu người phụ nữ Samaria, bị coi thường
trong làng mình, có chọn chính xác giờ này để tránh gặp ai đó không? Hay Gioan
muốn chúng ta hiểu rằng đó là giờ sáng rực rỡ và ánh sáng của thế gian vừa ló
dạng trên Samari, với sự mặc khải của Đấng Mêsia. Dẫu ánh sáng có chói như thế
nào nhưng không thiêu đốt chết ta, mà sẽ là dòng nước dịu mát là ta thêm sức
sống và sống dồi dào.
4. Trong sự mật thiết
với Chúa.
Cuộc đối thoại tiến
sang một giai đoạn mới. Người phụ nữ đi tới một bình diện hiểu biết mới: đã
linh cảm Đức Giêsu là ngôn sứ, bà hỏi Người rằng đầu là nơi hợp pháp để thờ
phượng Thiên Chúa, núi Garidim hay Giêrusalem.
Người phụ nữ đã tin
chắc: trong người đàn ông xa lạ và nghèo khổ này, cô đã tìm thấy chân lý giải
phóng của Chúa. Trái tim cô, được phơi bày, như được đổi mới. Cô đã muốn chia
sẻ niềm tin của mình. Cô có thể trở về cộng đồng của mình với tư thế ngẩng cao
đầu: có người đã nhận ra cô và cho cô một sự hiểu biết sâu sắc hơn về trái tim
mình. Người phụ nữ từng nghĩ mình có thể “trên cơ” người lạ đang khát khao này,
giờ đây thấy mình được phục hồi khả năng kết nối chân thành.
Mặc nhiên bà nhìn nhận
uy tín của Người nên xin Người giải quyết vấn đề. Đây là dịp tốt để Đức Giêsu
đưa bà vào việc phụng tự chân thật. Đối với Đức Giêsu, điểm chính của vấn đề
không chỉ nằm tại việc "thờ phượng", mà là "thờ phượng Chúa Cha".
Người phụ nữ lại nêu
ra một nhận định liên quan đến Đấng Mêsia sẽ đến, mà người Samari cũng đang chờ
đợi. Đã nhìn nhận Đức Giêsu là ngôn sứ, lúc này bà còn linh cảm mạnh mẽ tầm
quan trọng của con người Đức Giêsu. Thế là bà đã đủ chín muồi để có thể đón nhận
lời công bố long trọng của Đức Giêsu trong tư cách Đấng Mêsia. Đây là đỉnh cao
của cuộc đối thoại.
Hướng đi cứ thay đổi
liên tục. Và Đức Giêsu, chỉ sau tất cả những chặng này, mới tự mạc khải cho bà
như là Đấng Mêsia, Người nói đơn giản: "Chính là tôi” Công thức egó eimi
đưa chúng ta trở lại với tên của YHWH, khiến chúng ta có thể nói Đức Giêsu là
chính là Đức Chúa đến viếng thăm dân Samari. Đến cuối cuộc thăm viếng, người
Samari đã nhận biết Người như là "Đấng cứu độ trần gian" (c. 42);
người đã đến để ban sự sống đời đời (c. 14) và dạy cho biết nền phụng tự chân
thật (cc. 23-24).
5. Trong sứ vụ.
Bỏ lại bình nước,
người phụ nữ chạy vào thị trấn và trở thành một nhà truyền giáo: “Hãy đến xem
người đàn ông đã kể cho tôi mọi điều tôi từng làm: liệu người này có phải là
Đấng Christ không?” và nhiều người Samari tin vào Chúa Giêsu và mời Ngài ở lại
với họ.
Giờ đây, sự suy ngẫm
về những trải nghiệm cá nhân của chúng ta có thể được mở rộng đến cấp độ những
cuộc gặp gỡ cộng đồng, giữa người với người, giữa các nền văn hóa: chẳng phải
những người “đói khổ” ngày nay đang cầu xin lòng thương xót của chúng ta sao?
Đồng thời, cuộc gặp gỡ
này còn có một khía cạnh khác: ai trong chúng ta mà không cảm thấy, giống như
người phụ nữ Samari, một sự kinh ngạc nhất định trước Người mà số phận đã đưa
đến cho ta và Người ấy, trong sự giản dị của sự nghèo khó, đã thách thức sự tự
mãn của chúng ta? Hay Người đó lại có thể chia sẻ điều gì đó với chúng ta?
Sự trao đổi làm chúng
ta kinh ngạc: Chúa, người đàn ông nghèo khổ, lại sở hữu một sự giàu có mà trái
tim chúng ta khao khát. Và, có lẽ, trong cuộc gặp gỡ này, chúng ta thấy ánh mắt
của Chúa, Đấng soi sáng cho chúng ta thấy chính mình, và Lời của Ngài, Đấng
giải phóng chúng ta khỏi xiềng xích: 'Các con chỉ thiếu một điều'...
Tuy nhiên, như dân
làng Samari nói với người phụ nữ: “Chúng tôi không tin vì lời bà nói; chúng tôi
đã tận mắt chứng kiến và biết rằng người này thật sự là Đấng Cứu Thế của thế
giới”, hãy ý thức: là con người, với sức riêng, chúng ta không thể đạt tới Chúa
và nhận biết Ngài trong thực tại của Ngài. Bằng sức riêng, chúng ta không thể
đạt đến bất cứ sự hiếu biết chân thật nào về Chúa, hoặc một tương quan đúng đắn
nào với Ngài. Chỉ Đức Giêsu mới chỉ cho chúng ta và giúp chúng ta thờ phượng
Thiên Chúa đúng đẫn, bởi vì Người ban Thần Khí và Chân Lý cho chúng ta, Người
là Đấng Mêsia, Đấng Cứu độ trần gian (Ga 6,42). Phần chúng ta chỉ là những môn
đệ thừa sai cần đến Chúa và đến nhau.
§ 9. TÌNH YÊU.
Ga 19,17- 30.
I. Thiên Chúa yêu thế
gian.
Sự mô tả về việc Chúa
Giêsu bị đóng đinh gây ấn tượng ở độ ngắn gọn cực độ của nó: " họ
đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi
người một bên, còn Đức Giêsu thì ở giữa ".
"Hai
người nữa" Lúc đó Chúa Giêsu có giống họ không? Người được xếp vào số
“trong số những kẻ vi phạm” (Is 53,12) và được coi là người có tội
nặng nhất trong số họ.
Gioan tập trung mô tả
các sự kiện về con người của Con Thiên Chúa và nhấn mạnh sự ứng nghiệm hoàn
toàn và chính xác của tất cả những gì Kinh Thánh đã công bố. Tất cả mọi
thứ trong cuộc đời của Chúa Giêsu cho thấy Người là Chiên Con của Đức Chúa, Đấng
tẩy rửa tội lỗi của thế gian, một trong những danh hiệu quý giá nhất của
Người. Không nói điều gì về tên cướp ăn năn, tên đại úy La Mã, những kẻ
chế giễu, những giờ phút tăm tối, hay tấm màn rách trong đền thờ. Tất cả
đề cập duy nhất về những đau khổ của Chúa có liên quan đến sự ứng nghiệm của
Kinh thánh.
Những điều này diễn tả
về một tình yêu không chỉ là có từ muốn thuở, mà mạnh mẽ hơn, như chính kinh
nghiệm và đức tin của Gioan: Thiên Chúa là Tình Yêu.
II. Sống cho tình yêu
Chỉ có Gioan lưu giữ
hình ảnh cảm động về Chúa Giêsu vác thập giá, một hình ảnh khắc sâu trong ký ức
của ông với tư cách là người chứng kiến. Theo tục lệ, người bị kết án phải tự
vác thập giá, hoặc ít nhất là thanh ngang của thập giá, vì cột đứng đã được
dựng sẵn tại nơi hành quyết. Chúa Giê-su đã chịu đựng sự sỉ nhục này cho đến
khi nó được đặt trên lưng Si-môn người Ky-rê-nê (Ma-thi-ơ 27:32). Chính tại
đây, chúng ta nên suy ngẫm về lời của Chúa Giê-su:
Ai không vác thập tự
giá mình mà theo Ta thì không xứng đáng với Ta (Mt 10,38).
Tuy nhiên, Gioan cũng
ghi nhận: Người đã đi đến những người đang tìm kiếm Ngài (18,4), Người đã ra
khỏi dinh quan tổng đốc để đến với người Do Thái sau khi bị đánh đòn và đội mão
gai (19,5), và bây giờ Người đi ra từ các cổng thành Giêrusalem, thành giết các
tiên tri. (Theo Luật Môisen, khi dân Israle dâng một con vật để chuộc tội, con
vật đó được đem ra ngoài trại hoặc thành phố. Đây là điềm báo trước về những gì
sẽ xảy ra khi Chiên Con của Đức Chúa cất đi tội lỗi của thế gian). Như thế, với
Gioan, Chúa là người duy nhất có khả năng vác thập giá này, tượng trưng cho
tình yêu vị tha của Chúa Cha, ngay cả đến thử thách và cái chết.
Bởi vì để sứ vụ của
mình hoàn thành, Chúa Giêsu đồng ý nhận một cái gì đó từ những kẻ hành quyết và
từ những người mà Chúa đã chết. Không bao giờ Chúa hành động ngoài Lời
Kinh thánh, ngay cả khi Người biết cơn khát mãnh liệt của những người bị đóng
đinh. Không có gì được để cho sáng kiến của con người.
Người nói: “Ta khát”,
tiếng kêu này cho thấy rằng Chúa biết mức độ đau khổ của một người bị đóng
đinh. Chúa đã phải chịu đựng những gì mà chỉ có Chúa mới có thể chịu đựng
được. Tiếng kêu này, được thốt ra sau ba giờ đen tối, nhấn mạnh nhân tính
của Chúa. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không làm cho cơn khát của mình được thỏa
mãn. Mục đích khác và cao cả hơn: Chúa khát khao được ứng nghiệm lời Kinh
Thánh. Chúa yêu mến Cha hết lòng và sẵn sàng để những Lời của Cha được hoàn
thành.
Quả vậy, giấm, tức là
rượu chua, thức uống của binh lính và người nghèo. Nó phải được phân biệt
với đồ uống có chứa mật mà Chúa Giêsu đã từ chối vì nó có đặc tính làm giảm đau
đớn (Mt 27, 34: chúng cho Người uống rượu pha mật đắng, nhưng Người
chỉ nếm một chút mà không chịu uống).
Tiếng kêu khát này,
một mặt, gợi nhớ đến sự sẵn lòng của Người uống chén (18:11) theo kế
hoạch của Cha, cho đến cùng, thậm chí đến mức hi sinh mạng sống mình cho
những người Ngài yêu thương. Mặt khác, là liên kết với sự ứng nghiệm của Kinh
Thánh, nơi người công chính, được Đức Chúa Trời yêu thương, bày tỏ như sau trong
Thánh Vịnh 69,22: “thay vì đồ ăn, chúng trao mật đắng, con khát
nước, lại cho uống giấm chua”.
Mặt khác, chúng ta
không thể quên chính cơn khát này của Chúa Giêsu với người phụ nữ Sa-ma-ri
(4:7): một cơn khát mà đã trở thành nước hằng sống được ban dồi dào cho người
phụ nữ. Khát khao của Chúa Kitô gợi lên sứ mệnh của Người đối với Chúa Cha, lời
chứng của Người, và món quà Người hiến dâng chính mình: sự hiến dâng
để tất cả mọi người đều có sống dồi dào.
Cống hiến khác với
kiệt quệ.
ĐGH Phanxicô, khi sức
khỏe có vẻ trầm trọng, thì ngài nói: “Tôi không làm việc như một cái máy. Tôi
cống hiến phần còn lại của mình cho Chúa, cho Giáo Hội, cho anh chị em, không
phải vì bị buộc phải làm thế, nhưng vì tình yêu.”
Chúng ta đang sống
trong một xã hội mà đôi khi sự chăm chỉ bị đánh tráo khái niệm thành sự nhẫn
nhịn, phục vụ bị áp đặt thành nghĩa vụ. Có người bị ép làm đến kiệt sức,
quên cả chính mình, gia đình, lẫn lý tưởng ban đầu. Và nếu không tỉnh táo,
người ta có thể ngộ nhận đó là “cống hiến”.
Cống hiến là khi trái
tim còn được thở, còn được yêu, còn được lựa chọn. Bị ép làm đến chết là mất đi
sự sống một cách oan uổng, khác với cống hiến đến phút cuối là dâng hiến
sự sống ấy cho điều gì đó lớn lao hơn chính mình.
Cái
chết của Chúa không nằm ở sự báo thù, mà ở việc hiến dâng mạng sống của Người
cho những người tin. Cuộc Khổ nạn của Chúa đã dẫn dắt và mời gọi chúng ta đọc
lại Kinh Thánh với một cái nhìn mới mẻ, lắng nghe những bài thánh vịnh của
người công chính bị kết án và người tôi tớ đau khổ theo một cách hoàn toàn mới.
Hay nói cách khác, thập giá của Chúa Kitô mở ra con đường dẫn đến việc đọc Kinh
Thánh một cách khác: để ứng nghiệm, để hoàn thành trên chính cuộc đời chúng ta.
Sau khi Chúa Giêsu đã
uống giấm, Người nói, “mọi sự đã hoàn tất”, một từ trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa
là: chứng minh rằng một khoản nợ đã được giải quyết. Chỉ Chúa mới có thể phán
lời này với tất cả tình yêu dành cho chúng ta.
Chúng ta phải nắm bắt
bằng đức tin và hiểu rằng chúng ta không thể đóng góp vào sự cứu rỗi của chúng
ta bằng công việc của chính chúng ta hoặc bằng bất cứ điều gì đến từ chính
chúng ta. Điều duy nhất Chúa yêu cầu là tin tưởng và yêu mến Người.
“Đứng dưới chân thập
giá”: nhưng những người phụ nữ hiện diện, trong đó có mẹ của Chúa Giêsu, không
hề gục ngã, họ đứng thẳng, tràn đầy nghị lực, như thể trong lễ vật của Chúa
Giêsu, một sức mạnh nào đó có thể trỗi dậy trở lại. Mọi thứ đều có thể với
Chúa!
Có “thân mẫu Người”,
nghĩa là một người mẹ sống các sự kiện với ruột của mình. Một tước hiệu, một
đặc ân cũng bởi tình yêu của Chúa, như chính việc được hiện diện dưới chân thập
giá vậy. Mẹ đứng bằng tất cả tình yêu.
Điều này cho chúng ta biết một điều với mỗi chúng ta,
chúng ta có phải là phụ nữ hay không? Chúng ta có phải là mẹ hay không? Có lẽ không quan
trọng, nhưng điều chính yếu chúng ta đi vào mầu nhiệm Thánh giá, chúng ta đến
dưới chân Thập giá, chúng ta sống sứ vụ ơn gọi…. bằng đầu, hay bằng trái tim,
bằng những ràng buộc hay bằng tất cả tình yêu thương?
III.
Sống nhờ tình yêu.
Trong
khi Gioan lại kể tên những người phụ nữ khác có mặt: Maria, vợ của Cleophas và
Maria Magdalene, thì một sự ẩn danh đáng kinh ngạc của thân mẫu và người môn
đệ, cả hai là những người không bao giờ được nhắc đến bằng tên trong văn bản. Nếu chỉ có bốn
Tin Mừng của Thánh Gioan được bảo tồn, chúng ta sẽ không bao giờ biết rằng
"môn đệ mà Chúa Giêsu yêu mến" và "Mẹ của Chúa Giêsu", là
ai! Do đó, cả hai là duy nhất trong văn bản này chỉ được chỉ định bởi sự tham
chiếu của họ với Chúa Giêsu.
“Người
môn đệ” là ai? Thánh Gioan không nói rõ. Người môn đệ trở thành hình ảnh của
tất cả các môn đệ, cũng như người phụ nữ Samari trở thành hình ảnh của thế giới
Samari, và viên đại đội trưởng trở thành hình ảnh của thế giới không phải Do
Thái.
Người
môn đệ được “yêu thương” vì người ấy giữ lời Chúa Giêsu: “Ai có và giữ các điều
răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Ai yêu mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu
mến, và Thầy sẽ yêu mến người ấy và tỏ mình ra cho người ấy.” (Ga 14:21).
Có “thân mẫu Người”, trong
di chúc trên đồi Golgotha, Chúa Kitô đã diễn tả ở dạng số ít thiên chức làm mẹ
mới của Đức Mẹ, khi nói: Này là con của Bà. Thiên chức làm mẹ của Đức Maria,
trở thành di sản của con người, là một ân huệ, một ân huệ mà chính Chúa Kitô
đích thân ban tặng cho mỗi người.
"Bằng cách ban
cho thiên chức làm mẹ này một hình thức riêng biệt, Chúa Giêsu thể hiện ý muốn
biến Đức Maria không chỉ thành Mẹ của tất cả các tông đồ, mà còn là Mẹ của từng
người trong số họ nói riêng.
“Và
từ giờ đó người môn đệ đem Đức Maria về nhà mình” (c.27), khi đưa Đức Maria vào
nhà chúng ta, chúng ta được ban cho quyền trở thành “những người mẹ” đến lượt
chúng ta, ban sự sống khi chúng ta đứng dưới chân của tất cả những thập tự giá
bất công và tất cả những vụ “giết người” mang tính biểu tượng hoặc thực sự.
Chúng
ta trở thành con của Đức Mẹ, hay trở thành “mẹ” của người khác, tất cả nhờ tình
yêu. Chúng ta đang là gì cũng bởi tình yêu: là tu sĩ, là một thành viên trong
cộng đoàn….
“…đứng thẳng”: nhưng
những người phụ nữ hiện diện, trong đó có mẹ của Chúa Giêsu, không hề gục ngã,
họ đứng thẳng, tràn đầy nghị lực, như thể trong lễ vật của Chúa Giêsu, một sức
mạnh nào đó có thể làm họ trỗi dậy trở lại? Đó chính là tình yêu của Chúa.
Đây là điều mà chúng
ta được mời gọi sống và cùng nhau thực hành ngày hôm nay... Cuộc sống này được
ban tặng trong đau khổ, cuộc sống này được biến đổi trong đau khổ, cuộc sống “bất
khả thi” này tuy nhiên lại xuất phát từ sự toàn năng đầy yêu thương của Chúa.
IV.
Sống vì tình yêu.
Chúa
Giêsu đang hấp hối và chung quanh là tiếng la ó, sỉ nhục, nước mắt, đau thương,
và tuyệt vọng. Ai cũng muốn quay đi. Ai cũng muốn tránh né cái hoàn cảnh khốn
cùng ấy, nhưng Tin Mừng nói: "ĐỨNG gần thập giá Đức Giêsu, có thân
mẫu Người..."
Không
phải là "ngồi", không phải "nấp sau đám đông", không phải
"chạy trốn"... mà là ĐỨNG gần. Một từ rất đơn giản, chỉ một
hành động, nhưng chứa đựng một thế giới nội tâm mạnh mẽ, một ý nghĩa sâu sắc
của đời sống đức tin : "Đứng" là một ơn. "Đứng" là
một lựa chọn. "Đứng" là sự trung tín của đức tin.
Trước
hết, Mẹ Maria chắc chắn đau khổ tột cùng khi nhìn Con bị lăng nhục, đánh đòn,
bị treo trên thập giá và bị giết. Mẹ không tự mình “giỏi” để đứng được ở nơi
đau khổ khốc liệt nhất, Mẹ được ban ơn để đứng.
“Đứng
là một ân ban” bởi vì sức con người không thể tự mình đứng vững trước đau khổ,
trừ khi được Thiên Chúa ban ơn. Mẹ đã “đứng dưới chân Thánh Giá” không chỉ vì ý
chí kiên cường, mà vì Mẹ được Thiên Chúa ban cho ơn đứng đó, để trở thành Mẹ
của niềm hy vọng, Mẹ của những ai gục ngã.
Ai
cũng có giới hạn. Đau khổ làm cho đôi chân run rẩy, trái tim nứt vỡ, lòng tin
bị thử thách đến tận cùng. Xin Chúa ban cho mỗi chúng ta và cách riêng những
người đang sống trong những hoàn cảnh khó khăn và đau khổ được ơn
« đứng » vững.
Tiếp
đến, Mẹ Maria đã chọn "đứng"
Trong
đau đớn tận cùng, Mẹ không gào khóc. Không đổ lỗi. Không đòi công lý. Không
phản ứng theo cảm tính. Mẹ đứng đó, lặng lẽ như một lời chứng sống động rằng: Tình
yêu không bao giờ rút lui.
Mẹ
đứng đó không phải vì Mẹ không đau, mà vì Mẹ đã chọn ở lại, chọn hiện diện trọn
vẹn trong đau khổ của Con Mẹ. Thường tình thì không ai muốn “đứng” trong đau
khổ và mất mát cả... nhưng chính tại đó, Mẹ chọn đứng vì tình yêu.
Phải
yêu nhiều lắm, yêu đến mức hoàn toàn trao ban, thì mới có thể đứng vững giữa
cơn giông bão khắc nghiệt như thế.
Mẹ
không thể làm gì để “giải cứu” Con mình khỏi Thập Giá. Nhưng Mẹ có thể ở lại,
có thể hiện diện, có thể hiệp thông bằng trái tim của Mẹ.
Và
như thế, Mẹ đã tham dự trọn vẹn vào cuộc hiến tế của Con Mẹ, không bằng hành
động bên ngoài, mà bằng hiệp thông nội tâm sâu thẳm nhất.
Bao
lần chúng ta đã buông xuôi, chán nản và thậm chí là trách móc Chúa và người
thân khi phải đối diện với đau khổ và mất mát?
Đồng
thời, cách nào đó, Đứng còn là để nâng đỡ người khác. Tư thế đứng của Mẹ
cũng là một chỗ dựa cho người khác: cho Gioan, cho các phụ nữ khác, và cho cả
chúng ta hôm nay.
Mẹ
không nói gì, nhưng sự hiện diện của Mẹ là lời an ủi sâu sắc nhất. Nhiều khi,
trong đau khổ, chúng ta không cần lời nói, mà cần một ai đó đứng bên cạnh mình
như Mẹ đã đứng bên Chúa.
Ta
có thể noi gương Mẹ, chọn “đứng” gần bằng sự hiện diện, bằng vâng phục với
những thực tế đang xảy ra cho minh hay người thân, bằng lời cầu nguyện hay một
hy sinh chia sẻ….
"Đứng",
tư thế trung tín của đức tin.
Trong
Kinh Thánh, "đứng" không chỉ là hành động thể lý, mà là một biểu
tượng thiêng liêng, là hình ảnh của người đang sống trong tư thế sẵn sàng, tỉnh
thức, đối diện.
Ai
đứng, là người không đầu hàng. Ai đứng, là người dám đối diện với sự thật, với
đau khổ, với hy sinh, với thử thách. “Đứng dậy mà đi!” lời mời gọi lên đường,
bước theo Chúa. “Đứng trước mặt Chúa” là tư thế thờ phượng. “Đứng vững trong
đức tin” là quyết không để thử thách quật ngã. Ai đứng, là người tin rằng sự
chết không phải là tiếng nói sau cùng.
Mẹ
đứng, bởi vì Mẹ tin: tình yêu mạnh hơn sự chết. Mẹ đứng đó như biểu tượng của
Hội Thánh đang đứng giữa thế gian, giữ vững niềm tin trong những giờ phút đen
tối nhất, những thách đố và tấn công.
Đức
tin không phải chỉ là những cảm xúc dễ chịu, mà là khả năng đứng vững cho dẫu
mọi sự trở nên tăm tối.
Ai
cũng dễ tin khi mọi việc suôn sẻ. Nhưng chỉ người có đức tin trưởng thành mới
dám đứng giữa bóng tối mà vẫn tin vào ánh sáng. Chỉ người có tình yêu
sâu xa mới dám đứng lại bên Thánh Giá Chúa, mà không sợ đau khổ chạm vào mình.
Chiêm
ngắm Mẹ Maria đứng dưới chân Thánh Giá, tôi được mời gọi tự hỏi:
Khi
đau khổ ập đến, tôi có đứng vững không? Hay tôi tìm cách lẩn tránh, than trách,
hoặc buông xuôi?
Khi
người thân của tôi đau khổ, tôi có can đảm đứng bên cạnh họ, dù tôi không thể
làm gì, nhưng chỉ đơn giản là hiện diện và yêu thương không điều kiện?
Tôi
có đứng gần Thánh Giá của Chúa Giêsu hôm nay cách thường xuyên không? Tôi
sẽ "đứng" giữa xã hội này với một trái tim tin vào tình yêu và quyền
năng Chúa với điều thiện, hay tôi đã bị cuốn trôi theo đám đông?
Như
vậy, đời người môn đệ Chúa cũng sẽ theo gương Đức Mẹ. Phải chấp nhận dấn thân
vì yêu thương, cho dù phải chết. Cái chết đó sẽ được thực hiện hằng ngày, bằng
sự từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Chúa. Cái chết đó sẽ góp phần rất lớn
cho việc mở rộng Nước Trời.
“Từ
giờ đó, môn đồ đón nhận Mẹ” (Ga 19:27).
Động
từ “lambanô, đón nhận” có nhiều nghĩa: lấy, tiếp nhận, bổ sung, tin tưởng.
Ý
nghĩa thích hợp nhất: Đón tiếp Đức Maria là một thực tại của đức tin.
Người
môn đệ mang Đức Maria trong lòng mình, trong trái tim mình. Người môn đệ đón
nhận Mẹ Chúa Giêsu trong đức tin và vì tình yêu dành cho Chúa Giêsu. Đón nhận
Đức Maria là một sự kết hợp của các ngôi vị, là sống trong Mẹ, là hít thở hơi
thở của Mẹ, có nghĩa là người môn đệ mang Đức Maria vào cộng đoàn của mình và
tạo nên sự hiệp nhất giữa các môn đệ và sự hòa hợp nội tâm. Cộng đoàn học hỏi
từ Đức Maria để trở thành một người mẹ. Đón tiếp Đức Maria có nghĩa là cùng cầu
nguyện với Mẹ, cho những người thân yêu, cho giáo phận, cho các linh mục, cho
khu vực của chúng ta, cho người bệnh, người thất nghiệp, nạn nhân của các vụ
tấn công, trẻ em bị lạm dụng, cho các sáng kiến thiện chí khác nhau, v.v.
Chúng ta nên đáp lại
tình yêu thương mà Đức Mẹ Maria dành tặng cách rộng rãi và lời mời gọi của Chúa
Giêsu để nhận Mẹ làm Mẹ như thế nào? Môn đệ Gioan đã chọn đón Mẹ về nhà, dành
chỗ cho Mẹ trong trái tim mình, để Mẹ chia sẻ và gánh chịu những nỗi buồn, nỗi
đau và niềm vui của mình. Chúng ta cũng phải mở lòng mình ra với Đức Mẹ Maria.
Mẹ là mẫu mực trên con đường thánh thiện vì Mẹ đã biết nói “vâng” với Chúa suốt
cuộc đời mình, một lời “vâng” mà chúng ta thường khó nói ra. Mẹ là người đã ở
bên Chúa Giêsu cho đến tận thập giá. Làm sao Mẹ lại không ở bên chúng ta, những
người đang bước theo dấu chân Chúa Giêsu?
Chúng ta hãy hướng vào
bên trong chính mình. Mối quan hệ của chúng ta với Đức Mẹ Maria là gì? Chúng ta
có thường xuyên cầu nguyện Kinh Mân Côi không? Chúng ta có cầu xin Đức Mẹ chia
sẻ niềm vui, khó khăn, những thực tại hằng ngày của cuộc sống không?
Chúng ta đừng ngại đón
nhận Đức Mẹ vào cuộc sống của mình, hãy dành một vị trí đặc biệt cho Mẹ trong
trái tim mình; cuộc sống của chúng ta sẽ càng rạng rỡ hơn với ân sủng của Chúa.
LOAN BÁO NHƯ THẾ NÀO?
§ 10. TỪ BỎ.
St 12,1-3
I. Một lời mời gọi đến
từ Chúa.
Chúng ta đang ở thiên
niên kỷ thứ hai trước Công nguyên. Abram sống ở Chaldea, tức là ở Iraq, và
chính xác hơn là ở phía đông nam xa xôi của Iraq, trong thành phố Ur, ở thung
lũng Euphrat, gần Vịnh Ba Tư. Ông sống ở đó với vợ là Sarai; với cha là Tera; và
với các anh em là Nahor và Haran, và cháu trai là Lot. Abram 75 tuổi, vợ ông là
Sara 65 tuổi; họ không có con, và do đó, với tuổi tác của họ, họ sẽ không bao
giờ có thêm con nữa.
Một ngày nọ, Abram
cùng với cha, Sarai và cháu trai Lot lên đường. Đoàn lữ hành đi dọc thung lũng
Euphrates từ đông nam lên tây bắc, với ý định trở về vùng đất Canaan. (khoảng
năm 1800tcn. Theo sử liệu khảo cổ thì khoảng năm 2000tcn, đã có nhiều đợt di dân
lớn đến lập cư tại những miền đất trù phú. Có thể nói Abraham đã ra đi giữa
dòng người di cư, nhưng tiếng Chúa gọi vẫn là động cơ thúc đẩy chính. Đức tin
đã khiến Abraham từ giã tất cả để lên đường.) “Hãy rời bỏ quê hương của ngươi”.
Vào thời đó, Abram là
một người du mục, có lẽ giàu có nhưng vô danh, ông không có con, và vợ ông,
Sarai, đã quá tuổi sinh nở. Thế mà chính ông lại là người được Đức Chúa chọn
làm cha của một dân tộc lớn. Đây chính là ý nghĩa của cụm từ “cho ngươi” ở trên:
Đức Chúa Trời hứa ban cho ông mọi điều mà trong thời đó mang lại hạnh phúc cho
con người: con cháu đông đúc và phước lành của Đức Chúa Trời.
Nếu Chúa gọi con
người, đó là vì hạnh phúc của con người, không gì khác! Kế hoạch nhân từ của
Chúa dành cho nhân loại được gói gọn trong hai từ ngắn ngủi: "cho
ngươi". Chúa đã tự tỏ mình là Đấng mong muốn hạnh phúc của con người, của
tất cả mọi người; nếu có một điều cần phải nhớ, thì đó là điều này: một người
tin Chúa là người biết rằng, dù chuyện gì xảy ra, Chúa đều dẫn dắt họ đến sự
viên mãn, đến hạnh phúc của họ. Đây chính là lời đầu tiên của Chúa dành cho
Abraham, lời đã khởi đầu toàn bộ cuộc phiêu lưu của ông... và của chúng ta!
Abraham bị tách khỏi
số phận tự nhiên của mình, được chọn lựa, được Chúa tuyển chọn, được trao cho
một sứ mệnh có tầm ảnh hưởng toàn cầu.
Trong nhịp sống hằng
với những công việc, bổn phận… có vẻ như quá quen thuộc, quá nằm lòng,… nhưng
liệu ta có quen với ý nghĩ của mình? Có quen với những yêu cầu, những nhận định
của người khác? Hay thật lòng ta chịu “im lặng” với những âm thanh khác, để tập
trung nhận ra ý Chúa?
Kinh Thánh kể rằng
Abraham được gọi khi ông đã bảy mươi lắm tuổi. Ở cái tuổi mà một người chỉ muốn
khép lại cuộc đời mình, Abraham mới bắt đầu chặng hành trình theo Chúa.
Để có thể tiến về Đất
Hứa, Abraham phải để cho Chúa dẫn đi qua rất nhiều chặng đường đời. "Ông
đi từ chặng nọ qua chặng kia" (St 12). Những địa danh xa lạ lần lượt xuất
hiện và ghi lại dấu chân của người bước đi theo lệnh truyền của Chúa. Những địa
danh ấy không chỉ xa lạ với chúng ta hôm nay, mà còn xa lạ với chính Abraham
ngày ấy.
Chấp nhận lên đường
theo Chúa, Abraham không còn làm chủ hành trình cuộc đời của mình nữa. Đất Hứa
của Apraham nằm trong lòng bàn tay Thiên Chúa.
Với những người được
Chúa gọi, hành trình về Đất Hứa là một chuyến hành trình không có điểm dừng.
Hành trình ấy giúp người được gọi lớn lên từng ngày để sống trọn vẹn ơn gọi của
đời mình.
Tôi đang ở đâu trong
hành trình cuộc đời? Tôi đang ở đâu trong hành trình ơn gọi? Tôi đã chạm được
chút nào vào miền Đất Hứa của đời tôi chưa?
Hãy nhớ lại giây phút
đầu tiên khi tôi nhận ra tiếng gọi của Chúa. Hãy đi lại những chặng đường đời
mà Chúa đã dắt tôi qua. Hãy lục lại những dấu chân còn vương sót lại trong ký
ức đời tu của tôi.
Như Apraham, tôi đã
ghi dấu chân mình trên bao nhiêu địa danh? Từ chặng nọ qua chặng kia của hành
trình ơn gọi, tôi có sống được niềm xác tín: chính Chúa là Người đã dẫn tôi
băng qua tất cả những thăng trầm sóng gió?
Con đường phía trước
của tôi sẽ ra sao? Tương lai cuộc đời của tôi sẽ như thế nào? Tôi có niềm tin
vào tương lai của mình không? Những con đường phía trước còn vô danh.
Nếu dám xác tín chính
Chúa là người đã dẫn tôi đi qua bao chặng đường đời, tôi có dám tiếp tục xác
tín chính Người sẽ tiếp tục đưa tôi về phía trước không?
Tôi
có nhận ra rằng, khi đứng một chỗ để lo sợ và nghi nan, thì chính tôi mới là
người đang khóa chặt con đường ơn gọi của mình? Tôi có dám tin rằng có những
con đường chỉ bắt đầu sáng ra khi bàn chân của tôi dám bước về phía trước?
II.
Từ bỏ là hành trình.
“Hãy rời bỏ xứ sở
ngươi, họ hàng ngươi và nhà cha ngươi…” (c.1)
Đây là lệnh
truyền đầu tiên mà Thiên Chúa trực tiếp nói với Ápram. Cụm động
từ “rời bỏ” được lặp lại ba lần, thể hiện mức độ tách lìa ngày càng
sâu: Rời xứ sở → xa quê hương, là khoảng không gian quen thuộc alàm nên cuộc
đời mình, Rời họ hàng → cắt đứt liên hệ xã hội, là tình thân, tình bạn, những
vòng tay tiếng cười quen thuộc, Rời nhà cha → từ bỏ gốc rễ gia đình, an toàn cá
nhân, những gì quan trọng và yêu quý nhất.
Trong bối cảnh xã hội Semit cổ đại, gia
đình là nền tảng sinh tồn, là nơi đảm bảo danh dự, an ninh, cả tôn giáo. Việc
từ bỏ tất cả đồng nghĩa với bước vào tình trạng mong manh, lệ thuộc hoàn
toàn vào Thiên Chúa.
Từ bỏ là một hành
trình tiệm tiệm tiến rất dài, khởi đi từ những gì đó chung chung cho đến những
cái cụ thể, hữu hình và quý giá nhất, đặc biệt là cả những gì đụng chạm trực
tiếp đến cuộc đời, tương quan và chính tâm hồn mình.
Ơn gọi tu trì cũng bắt
đầu từ một lời mời gọi: rời bỏ, không chỉ là tách khỏi gia đình thể lý, mà là
hành trình liên lỉ rời bỏ: ý riêng, tham vọng cá nhân, sự an toàn giả tạo trong
cộng đoàn, thậm chí cả những hình thức đạo đức mang tính thói quen, những “quê
hương nội tâm” mà ta vẫn bám víu.
Vào buổi đầu của cuộc
hành trình vĩ đại này, người mà chúng ta gọi là Abraham vẫn chỉ được gọi đơn
giản là "Abram"; mãi sau này, sau nhiều năm hành trình, Abram mới
nhận được từ Đức Chúa Trời một cái tên mới, cái tên mà chúng ta biết đến ông, "Abraham,"
có nghĩa là "cha của muôn dân."
Điều này có nghĩa là
những gì Thiên Chúa ban và nói sẽ không được nắm bắt ngay lập tức. Chỉ sau một
thời gian dài khám phá Giao ước của Chúa, các tín đồ mới có thể tiếp cận được
toàn bộ chân lý: Kế hoạch của Chúa không chỉ liên quan đến Abraham và con cháu
ông, mà còn liên quan đến toàn thể nhân loại. Đây được gọi là tính phổ quát của
kế hoạch của Chúa. Khám phá này bắt nguồn từ thời kỳ lưu đày ở Babylon vào thế
kỷ thứ sáu trước Công nguyên.
Ơn gọi tu trì không
phải là một lần “bỏ” rồi xong. Đó là một hành trình không ngừng thoát ly
để kết hiệp, bỏ mình để theo Chúa trọn vẹn hơn. Ơn gọi không chỉ là “đi
khỏi”, mà là “đi đến” nơi Chúa sẽ chỉ.
Có điều gì trong tôi
hôm nay Chúa vẫn đang mời gọi tôi rời bỏ nhưng tôi còn chần chừ?
III. Từ bỏ là tín
thác.
Từ bỏ để làm gì? Chúa
bảo Ápraham rời bỏ để ra đi. Đi đâu? Đi đến đất mà Chúa sẽ chỉ cho ông (St
12,1b).
Đất mà Chúa sẽ chỉ là
đất nào? Không ai biết! Chúa không hề nói rõ đó là Đất nào. Chúa không chỉ ra
cách cụ thể Đất đó ở đâu. Chúa cũng không hứa cách dứt khoát đến khi nào thì
Abraham mới được tận mắt nhìn thấy Đất ấy.
Hóa ra Chúa bảo
Ápraham phải từ bỏ những điều thật hữu hình, cụ thể, rõ ràng, thân thuộc... để
bước vào một chuyến hành trình long đong và đầy mơ hồ!
Hóa ra Chúa muốn đẩy
Abraham rời xa một quá khứ đong đầy yêu thương, một hiện tại bình yên dung dị,
để hướng đến một tương lai không biết như thế nào!
Hóa ra Chúa như đẩy
Abraham vào một cuộc chơi, mời Abraham phải đầu tư vào đó tất cả những gì mình
có và trọn vẹn những gì mình là. Kết quả thế nào thì hãy còn ở phía trước!
Trong câu chuyện về ơn
gọi của Ápraham, chữ "sẽ" được lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Chữ này
thường được dùng để chỉ thì tương lai, trong công thức của lời hứa. Thiên Chúa
của Ápraham là một Đức Chúa không ngại hứa: "Ta sẽ chỉ cho ngươi".
Vậy mà Apraham cũng ra đi.
Có vẻ như với Abraham,
nội dung của lời hứa không quan trọng cho bằng chính Người hứa. Chỉ cần tin
rằng người gọi mình chính là Đức Chúa. Chỉ cần tin rằng người hứa với mình
chính là Đức Chúa, vậy là đủ!
Ơn gọi là hành trình
của niềm tin hơn là tri thức.
“…đi đến đất Ta sẽ chỉ
cho ngươi.” Chúa
không vẽ bản đồ. Ngài không nói rõ đích đến. Ngài chỉ nói: “hãy đi” và ta sẽ được
nhận biết từng bước. Đây chính là hành trình đức tin, không phải hành
trình của sự chắc chắn, mà là của lòng tín thác.
Cơn cám dỗ với chúng
ta đôi khi muốn biết trước, muốn nắm chắc: Tu dòng này rồi sẽ đi đâu? Làm gì?
Có được sử dụng tài năng không? Có được công nhận không?
Nhưng Chúa chỉ nói:
Con chỉ cần đi. Còn đích đến, Ta sẽ chỉ cho con, theo thời gian và trong thinh
lặng.
Ơn gọi không phải là
biết mình sẽ làm gì cho Chúa, mà là để Chúa làm điều gì đó nơi mình, dù
mình không hiểu rõ.
Tôi có phải là người
dám bước đi mà không cần hiểu hết, dám sống “đức tin hành động” mỗi ngày?
Nhìn vào Abraham, cách
ông đáp lời, cách ông cộng tác và cách ông làm theo Chúa, tôi học được điều gì?
Tôi sẽ phải thay đổi gì?
Tôi dám theo Chúa bằng
việc chấp nhận để lại đằng sau những gì trước mắt, hầu hướng tới những gì chưa
thấy ở phía trước mà Chúa muốn?
Ơn gọi không phải là
gánh nặng, mà là lời hứa. Khi từ bỏ để theo Chúa, ta không đánh mất tương lai,
nhưng nhận lại một sứ mạng sinh ích lớn lao hơn: không phải sinh con thể
lý, mà là sinh hoa trái thiêng liêng cho Hội Thánh và thế giới.
Lời hứa của Chúa là
nền tảng cho đời sống tu trì của ta không? Tôi sống thế nào với niềm hy vọng
vào lời hứa của Chúa?
Nếu cứ ở lại trong nhà
mình, nói cho cùng, Abraham vẫn mãi là một đứa con. Chúa gọi ông ra đi vì Người
có một kế hoạch đặc biệt dành cho cuộc đời ông.
Rời bỏ mái nhà mình,
Abraham tìm thấy cuộc đời của chính mình. Rời bỏ nhà của cha mình, từ bỏ địa vị
làm con trong một mái nhà, Abraham dần dần trở thành cha của một dòng tộc,
thành Tổ phụ của tất cả những người tin vào Đức Chúa.
IV.
Từ bỏ là cho người khác.
“Ngươi sẽ là một nguồn phúc lành…
Mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nhờ ngươi.”
Hạnh
phúc được hứa ban cho Abraham không chỉ dành riêng cho ông: trong Kinh Thánh,
không có ơn gọi, không có sự kêu gọi nào lại chỉ vì lợi ích của người được kêu
gọi mà thôi. Đây
thậm chí là một trong những tiêu chí của một ơn gọi đích thực: mỗi ơn gọi luôn
hướng đến một sứ mệnh phục vụ người khác. Ở đây, có câu nói: "Nhờ ngươi
mà tất cả các gia đình sẽ được chúc phúc." Nó có hai nghĩa: thứ nhất,
sự thành công của bạn sẽ lớn lao đến mức bạn sẽ được lấy làm gương.
Ý thức trách nhiệm cao
cả này như thế nào?
Thứ hai, "nhờ
ngươi" có thể có nghĩa là "qua ngươi", Ta, Đức Chúa, sẽ chúc
phúc cho tất cả các gia đình trên đất."
Kế hoạch hạnh phúc của
Chúa bắt đầu với Abraham, nhưng nó vượt xa ông, nó liên quan đến toàn thể nhân
loại: "Nhờ ngươi, qua ngươi, tất cả các gia đình trên đất sẽ được chúc
phúc." Xuyên suốt lịch sử Israel, Kinh Thánh vẫn trung thành với sự khám
phá ban đầu này: Abraham và con cháu ông là dân được chọn, được Chúa lựa chọn
trong sự mầu nhiệm không thể hiểu nổi của ý muốn Ngài, nhưng điều này là vì lợi
ích của toàn thể nhân loại.
Lời hứa “mọi gia tộc
sẽ được chúc phúc nhờ ngươi” là nền tảng của ơn gọi truyền giáo trong Cựu
Ước và lời tiên báo về Đấng Mêsia đến từ dòng dõi Áp-ram (x. Mt
1,1).
Tu sĩ không sống để
“cứu linh hồn mình”, mà để trở thành khí cụ cứu độ của Thiên Chúa cho
người khác.
Ơn gọi không phải là
ẩn mình trong sự thánh thiện riêng lẻ, mà là lan tỏa phúc lành bằng hiện
diện, phục vụ, chiêm niệm, hiến tế.
Chúa không gọi chúng
ta để ta trở nên đặc biệt, mà để người khác nhận được phúc nhờ ta. Ơn
gọi là trở thành phúc lành cho người khác.
Với tu sĩ, ơn gọi
không dừng lại nơi chiêm niệm cá nhân hay đời sống cộng đoàn, mà phải trở thành
nguồn phúc lành: Cho anh chị em trong hội dòng, cho những người mình phục vụ,
cho cả những người không quen biết, không ưa mình, thậm chí chống lại mình.
Tu sĩ chân thật là
người mang lấy sự hiện diện của Thiên Chúa, truyền tải ánh sáng, bình
an, hy vọng và tình yêu của Ngài, đôi khi chỉ bằng sự hiện diện lặng lẽ, trung
tín.
Hôm nay, tôi đang là
nguồn phúc lành, hay là một rào cản khiến người khác không nhận ra tình yêu
Chúa? Có dám xác tín mình là “phúc” cho người khác không?
Tôi cảm nhận chữ
“phúc” trong đời dâng hiến như thế nào? Từ ngày bước vào đời tu, bước vào sống
chung với chị em…, tôi có thấy mình là người được chúc phúc không?
Tôi sống chữ “phúc”
này ra sao?
Ngày nay nhiều bạn
không “ham” đi tu vì lý do nào: do tôi chưa có sức hấp dẫn hay do xã hội?
Khi nào tôi như
Abraham, buông bỏ tất cả và hết lòng sống và làm theo những gì Chúa muốn? Hãy
nhớ: khi nào ta đủ tự do sống cho Chúa, Chúa sẽ đủ tự do sống cho ta và thực
hiện những quyền năng của Ngài trên cuộc đời ta. (anh bại liệt tay nghe theo
Chúa ra giữa hội đường trong ngày sabat).
Ơn gọi tu sĩ không
phải là đích đến, nhưng là một cuộc hành trình được bắt đầu bằng một tiếng
gọi và tiếp tục từng ngày bằng lòng trung tín, nhưng cũng không thể chối từ có
những cám dỗ. Vì thế, như Abraham, xin cho mỗi chúng ta can đảm bước đi, dù
không biết rõ, nhưng luôn tin tưởng rằng Chúa là Đấng dẫn đường,
và chính Ngài là phần thưởng của chúng ta.
“Lạy Chúa, Con nghe
tiếng Chúa gọi Abraham, cũng là tiếng Chúa gọi con. Xin cho con can đảm rời bỏ
điều cản trở con sống trọn vẹn với Ngài. Xin cho con đức tin dù bước đi trong u
tối, dù con không hiểu, nhưng tin vào kế hoạch của Ngài. Và xin cho đời sống tu
trì của con là phúc lành âm thầm nhưng sống động cho những ai con gặp. Amen.”
§. 11. CỞI MỞ.
Mt 17, 21-26
I. "Bạn nghĩ sao?": Lời kêu gọi
suy ngẫm cá nhân
Điều đầu tiên Chúa
Giêsu dạy Phêrô là phải suy nghĩ kỹ lưỡng về một vấn đề trước khi đưa ra quyết
định. "Simon, con nghĩ sao? ", Chúa Giêsu hỏi ông,
"Con nghĩ sao? ", vượt ra ngoài những điều hiển
nhiên.
Thuế này dựa trên một
truyền thống có từ thời ra khỏi ai Cập; sau đó nó được tiếp thu và hệ thống hóa
vào thời Ezra. Mặc dù thuế này đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ, Chúa Giêsu
nói với Phêrô rằng việc có nên nộp thuế hay không, là cần được xem xét kỹ
lưỡng, và mỗi người có quyền tự do hình thành ý kiến riêng của mình.
Những lời này của Chúa
Giêsu nói với Phêrô khuyến khích chúng ta hành động một cách thận trọng và có
trách nhiệm.
Trong lời nói của
Ngài, Chúa Giêsu cũng ngầm khiển trách Phêrô, người đã không ngần ngại trả lời
thay cho Ngài. Nếu ông hiểu được ý nghĩa của câu hỏi "Ngươi nghĩ sao?",
thay vì trả lời thay cho người khác, ông đã trả lời những người thu thuế rằng:
"Người ấy cao lớn lắm; hãy tự mình hỏi người ấy mà xem! "(xGa
9,23).
II. Cởi mở để nhận ra
ân ban.
Chắc hẳn Phêrô đã tràn đầy hy vọng và phấn khích khi
kéo con cá này, tự hỏi liệu lời Chúa Giêsu có trở thành sự thật hay không. Và
ngay khi Phêrô nhìn thấy đồng tiền, đúng như Chúa Giêsu đã nói, ông hẳn đã vô
cùng kinh ngạc. Dần dần, nỗi sợ hãi và lo lắng mà ông đang trải qua trước lời
tiên báo thứ hai về cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu sẽ bắt đầu để lắng
xuống khi Phêrô chứng kiến một dấu lạ kỳ diệu khác. (giả sử thôi, vì Tin mừng
không nói rõ Phêrô có thực hiện hay không)
Chúa thực hiện phép lạ
trong cuộc sống chúng ta mỗi ngày. Vấn đề là chúng ta thường không nhận ra
chúng. Chúa luôn biết chúng ta cần gì trong cuộc sống. Ngài biết những đấu
tranh và hoài nghi của chúng ta. Đôi khi, Ngài im lặng để kéo chúng ta sâu hơn
qua lời cầu nguyện có chủ đích và hành động đức tin. Và đôi khi, chúng ta đột
nhiên nhận ra rằng mình nhận được một sự sáng tỏ mới trong cuộc sống, đó là kết
quả của ân sủng Chúa đang hoạt động.
Chúa Giêsu biết rằng
Phêrô cần thêm ân ban của phép lạ cá nhân để ông có thể vượt qua nỗi sợ hãi và
đấu tranh của mình và đặt trọn niềm tin vào Chúa Giêsu.
Hôm nay, hãy suy gẫm
về những cách mà Chúa đã đảm bảo với chúng ta về sự hiện diện và hành động
thiêng liêng của Ngài trong cuộc đời chúng ta. Mặc dù những phép lạ mà Chúa đã
thực hiện trong cuộc đời chúng ta có thể không phải là vật chất.
Hãy suy gẫm về sự can
thiệp của Ngài và những cách Ngài đã chăm sóc và dẫn dắt chúng ta. Hãy biết ơn
và để ký ức về những gì Chúa đã làm trở thành sức mạnh của chúng ta ngày hôm
nay và là nguồn hy vọng khi bạn cần nhất.
Điều bất ngờ là tiền có
như thế nào! Để chứng tỏ uy quyền của mình đối với thiên nhiên, Chúa yêu cầu
Phêrô đi câu cá bằng thả câu. Đối với Phêrô, điều này khá bất thường vì anh
thường dùng lưới, bắt đủ cá để chất đầy thuyền trong mỗi lần đánh bắt. Điều bất
ngờ nữa là nơi tìm thấy tiền: trong miệng con cá đầu tiên mà Phêrô bắt được!
Ngay cả khi chúng ta không được nghe phần còn lại của câu chuyện, cũng không có
lý do gì để nghi ngờ rằng nó đã không xảy ra như Chúa Giêsu đã tiên đoán, hoặc
rằng thuế chưa được nộp đầy đủ (cho Chúa và cho Phêrô)! Chúng ta còn có thể
mong đợi điều gì hơn nữa nơi Chúa Giêsu? Chúng ta có dám và can đảm làm theo
những gì chúa mời gọi không? Thật với lòng mình thi đa phần là không!
“Vì vậy, con
cái được tự do! ", mang ý nghĩa vô cùng to lớn, vượt xa vấn
đề thuế má.
Dù trong hoàn cảnh
nào, chúng ta cũng không phải trả giá cho vị trí của mình trong số dân Chúa. Vị
trí của chúng ta với tư cách là con cái Chúa là điều hiển nhiên, dù giàu hay
nghèo, dù công chính hay tội lỗi, dù là nam hay nữ. Chính điều hiển nhiên này làm
cho chúng ta tự do. Tự do suy nghĩ, dù không hoàn hảo. Tự do dâng hiến cho Chúa
hay giữ lại.
Do đó, vấn đề không
phải là việc trả thuế cho Chúa để mua quyền công dân hay để mua sự tha thứ và những phước lành đặc biệt
của Ngài. Thay vào đó, có Phúc Âm, mang đến sự bình an đến từ Chúa, và lòng
khao khát được nhận từ Ngài ngày hôm nay thêm sự khôn ngoan và sức mạnh để giải
phóng chúng ta hơn nữa.
Không còn phải trả
thuế để được tha thứ, cũng không cần phải hy sinh một xu nào để có được tương
lai và niềm hy vọng.
III. Cởi mở để nhận ra
người khác.
Chúa Giêsu là Con
Thiên Chúa như vậy thì không cần phải đóng thuế đền thờ, nhưng biết rõ rằng
cách cư xử như vậy sẽ dẫn đến xung đột nên Người không tuyên bố trong xung đột,
nhưng trong sự khiêm nhường hạ mình xuống đối với những người nhỏ nhất, nghèo
nhất.
Đây là một bài học rất
quan trọng đối với người Kitô hữu ngày nay, cách riêng là chúng ta những người
sống đời dâng hiến, những người trong khi khẳng định đức tin và quyền sống đức
tin của mình, phải học cách không cố định trong một suy nghĩ cá nhân cách không
khoan nhượng đến mức cắt đứt tình huynh đệ với người khác. Đây cũng là một bài
học quan trọng trong thế giới của chúng ta, nơi người Kitô hữu phải tuân thủ
luật pháp của nước mình miễn là chúng không ảnh hưởng đến sự thật của đời sống
đức tin của mình.
Phải chăng nhiều lúc
ta đã quá “cứng nhắc”, “rập khuôn” cho những suy nghĩ của mình trong tương quan
cộng đoàn?
Tuy nhiên Chúa “cởi
mở” trong suy nghĩ nhưng không phải là cởi mở cách thoải mái và không suy nghĩ.
Còn chúng ta thì không ít lần chủ động “cởi mở” cho những suy nghĩ không đúng.
“Con hãy ra biển
thả câu: con cá nào câu lên trước hết thì bắt lấy, mở miệng nó ra, sẽ thấy một
đồng tiền, con hãy lấy tiền đó mà nộp cho họ, trả phần Thầy và phần con”.
Chúa Giêsu không chỉ
trả tiền cho mình mà còn trả tiền cho Phêrô…. Tình liên đới huynh đệ một cách
cụ thể! Đây cũng là một bài học để hội nhập vào đời sống đức tin của chúng ta
với thế giới của chúng ta.
Giới răn yêu thương
của Thiên Chúa được mỗi người chúng ta áp dụng tùy theo tình bạn mà chúng ta
dành cho người khác. Hãy yêu thương kẻ thù của bạn và cầu nguyện cho họ. Chính
tình yêu của Chúa Giêsu dành cho con người đã dẫn Người đến chỗ chịu khổ hình trên
thập giá. Và chính từ tình yêu này mà Người mời gọi chúng ta sống.
Chúng ta ý thức sống
tình liên đới này ra sao?
Vị trí hôm nay tôi có
là từ đâu? “Cho Thầy và cho anh” là do anh câu được hay bởi Thầy?
Chúa Giêsu chỉ cho
Phêrô một cách để làm điều đó. Cách đó bao gồm việc lấy những gì Chúa đã ban
cho và sau đó tự mình cho đi.
Vậy thì, đây chính là
lời kêu gọi của Phêrô: trên hết là tìm kiếm kho báu ẩn chứa trong những gì ông
đã lãnh nhận, để từ đó sẽ là giá trị quý báu mà ông mang đến để ban sự sống cho
người khác, thay vì làm họ phật lòng bằng cách chỉ quan tâm đến bản thân và sự
cứu rỗi nhỏ bé của riêng mình.
Câu chuyện kết thúc
bằng lời chỉ dẫn này mà Chúa Giêsu dành cho Phêrô. Phép lạ không được thuật
lại, điều này là độc nhất vô nhị trong các sách Phúc Âm. Liệu Phêrô có thực sự
chứng kiến phép lạ đó không?
Trong Kinh Thánh, khi
một câu chuyện chưa hoàn thành, đó là để chúng ta có thể viết tiếp bằng chính
cuộc đời mình. Tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ tìm thấy vàng, bạc và những viên
ngọc quý giá trong những sứ vụ của mình. Những kho báu để nuôi dưỡng cuộc sống
thiêng liêng, vốn luôn là một phép màu bất ngờ. Kho báu nằm ở ngay trước mắt.
Chúa Giêsu, một con
người giữa loài người, tuân theo các quy tắc của đền thờ; và sẽ trả hai đồng;
mặc dù biết rằng đền thờ này chỉ là tạm thời. Hai đồng này không cần thiết đối
với Chúa, lễ vật cần thiết chính là lễ vật mạng sống của Người.
Quả vậy, Người Do Thái
có luật nộp thuế cho Đền Thờ thể hiện lòng thờ phượng, còn Đức Giêsu thì đóng
góp bằng chính mạng sống của Người để thờ phượng Thiên Chúa. Qua việc đóng thuế
đền thờ là Người thờ phượng Thiên Chúa bằng chính mạng sống của mình bằng hành
vi tự nguyện. Và đó mới là hành vi thờ phượng Thiên Chúa cách sâu xa nhất, bằng
cách dâng cho Thiên Chúa ý muốn riêng, và dâng chính mạng sống mình để thực
hiện kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa dành cho loài người.
Như thế, việc thờ
phượng của các tín hữu cũng không được dừng lại ở những lễ nghi, tiền của,
nhưng còn là chính con người của mình, được thể hiện qua hành vi thể lý, qua
việc hiến dâng ý riêng vì lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Đó mới là việc
thờ phượng mà Thiên Chúa ưa thích.
Trong từng công việc
bổn phần hằng ngày, từ việc thiêng liêng đến những sinh hoạt rất đời thường, ta
đã thờ phượng Chúa như thế nào?
Sau cùng, công việc của Phêrô, công việc câu
cá, tức sứ vụ mà Phêrô được kêu gọi làm, là tìm kiếm trên hết kho báu nằm trong
những gì mà Phêrô đón nhận. Hãy coi đó là giá trị quý giá mà nó mang lại để
giúp đỡ người khác sống thay vì gây tai tiếng cho họ bằng cách bỏ rơi họ và chỉ
lo lắng cho bản thân. Tôi sẽ tìm thấy vàng, bạc và ngọc trai quý giá, những kho
báu giúp con người sống cuộc sống thiêng liêng?
Câu chuyện kết thúc với lời chỉ dẫn này
của Chúa Giêsu dành cho Phêrô. Bản thân phép lạ không được kể lại, điều này là
để chúng ta có thể viết phần tiếp theo bằng chính cuộc đời mình.
§.
12. MẶC LẤY.
Luc 15, 1-3.11-32
I. Mặc lấy những sai lầm.
Xin cha chia gia tài cho mình, đó là bình
thường việc của người con trai thứ, vì không phải là con trưởng, đi tìm một vận
may xa xứ. Đối với người nghe là người Do Thái hay người Hy Lạp, vấn đề chia của
thừa kế như trong câu chuyện này cũng là điều dễ hiểu. Trong dụ ngôn, người cha
cũng chẳng ngăn cản gì người con thứ, trái lại, ông còn thực hiện đúng như anh
ta xin. Ông tuyệt đối tôn trọng tự do của con trai.
Thay vì mặc lấy tình thương và sự bảo bọc của
cha, của gia đình, của tôn giáo, thì anh chọn mặc lấy cách sống theo thế gian.
Anh đã gom góp tất cả của cải phần mình và
trẩy đi phương xa. “Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình”
(c.13b). Tình cảnh bi đát và đáng phàn nàn bắt đầu từ đây: anh sống phóng đãng
và phung phí tài sản với bọn điếm. Anh sống vô luân. Anh sử dụng tài sản thừa kế
(không phải do anh làm ra) một cách phung phí và phóng đãng. Anh tiêu sạch mọi
thứ mà cha đã cho anh. Anh lâm vào một tình trạng bi thảm về đạo đức và bi đát
về xã hội. Anh không chỉ mặc lấy cách sống của thế gian, mà còn mặc lấy những
điều tệ hại của thế gian.
Và chính từ điểm này, anh bắt đầu rời xa Lề
Luật và tôn giáo của dân tộc mình. “Anh ta đi ở đợ cho một người dân trong
vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo” (c.15).
Như thế là luôn luôn ở trong tình trạng ô uế
xét theo quan điểm người Do Thái. Đối với người Do Thái, không chỉ tùng phục
cho dân ngoại, mà còn cả việc heo là loài thú vật hết sức ô uế, nên tình trạng
của anh là không còn mặc lấy tôn giáo của dân tộc mình.
Tình cảnh tôn giáo của người con thứ đã trở
nên hết sức tồi tệ. Nhưng chưa hết: “Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà
nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho”. Thậm chí heo còn được coi trọng hơn
anh ta!
Rõ ràng là không thể có hình ảnh nào “đắt”
hơn để diễn tả tình trạng xuống cấp bi đát của người con thứ xét về phương diện
tôn giáo cũng như xã hội. Tình trạng bi đát đó xảy đến khi anh lưu lạc nơi một
xứ sở xa xăm. Các chi tiết miêu tả đều rất đáng chú ý, nhắc chúng ta nghĩ đến
những đường nét chính yếu trong thân phận của những kẻ tội lỗi: cuộc trẩy đi
phương xa như gợi ý về cuộc đi xa khỏi Thiên Chúa; tình cảnh túng thiếu và khốn
cùng gợi ý về sự đánh mất vinh quang của con người, hình ảnh của Thiên Chúa; sự
thường xuyên tiếp xúc với đàn heo, những con vật ô uế, là biểu tượng cho sự chết
mà kẻ tội lỗi phải chịu.
Anh đã cởi bỏ sự sống, vinh quang và danh dự
đáng quý của dân tuyển chọn, để mặc lấy xa cách Chúa, sống trong tội lỗi, và mặc
lấy sự ô nhục cùng đau khổ.
Có lẽ chúng ta không đến nỗi như người con
thứ!
Tuy nhiên, cũng có thể không đến nỗi rõ ràng
như người con thứ, chứ còn mức độ thì có thể là như nhau, là ngang bằng?
Ta hãy không ngừng xét xem, mỗi ngày ta nên,
đang và sẽ phải “mặc” gì?
Ta có nhận thấy và nhận biết, những người
xung quanh, thế giới… đang “mặc” gì trong cách sống, trong xu hướng và chủ
đích? Ta đã làm gì?
II. Mặc lấy những giá trị đúng.
Người con thứ đã rơi xuống đáy vực thẳm, và
“bấy giờ anh ta hồi tâm”. Đó là điểm khởi đầu của cuộc hoán cải. Khởi
điểm để mặc lại những giá trị đúng khi ý thức về những giá trị chân chính.
Anh tiếp tục tự nói với mình: “Thôi, ta đứng
lên, đi về cùng cha và thưa với người: Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với
cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho
cha vậy” (cc.18-19).
Hình ảnh này nhắc với chúng ta rằng: không
ít người, trong đó có khi có cả chúng ta đã không ít lần chẳng bận lòng để ý đến,
thậm chí là không ý thức về những giá trị đúng cần có với mình, với ơn gọi.
Thế nên, để làm tốt việc này thì lời mời gọi,
như người con thứ, hãy thường xuyên “khóc” vì những sai trái mình chọn, thường
xuyên nghĩ về những điều tốt đẹp mà mình đã được lãnh nhận, cũng như những người
khác đã được đối xử từ Chúa, để từ đó uôn có trong ta những giá trị cao quý và
đẹp đẽ để quy về, để giữ lại, và để hướng tới và mạc lấy nó.
Tuy nhiên, liệu chúng ta có như người con thứ
không chỉ đã ý thức về tội lỗi của mình, mà anh quyết định trở lại với cha, cho
dù anh biết rõ mình không còn chút quyền làm con của cha. Anh chỉ còn mong một
điều: được đối xử như một người làm công. “Con chẳng còn đáng gọi là con cha nữa.
Xin coi con như một người làm công cho cha vậy”.
“Thế rồi anh đứng lên đi về cùng cha”
(c.20a). Anh bước vào giai đoạn thứ hai của cuộc hoán cải: thực hiện trong thực
tế những suy nghĩ và quyết định của mình. Đứng dậy trở về với cha, quyết định mặc
lấy những giá trị của sự sống.
Chúng ta thực sự tiếp bước nữa không? Hay chỉ
dừng lại ở việc hối hận và ăn năn, mà không dốc lòng chừa, không thực sự muốn
thay đổi?
Điều này cũng mới gọi chúng ta cầu nguyện
nhiều cho mình cũng như cho những người đang cứng lòng trong tội lỗi và sai lạc.
đặc biệt là sự dấn thân để nhắc về, cũng như tạo điều kiện cho người tội lỗi có
khả năng mặc lấy những giá trị đúng, đẹp và tràn đầy sức sống từ Chúa.
III. Mặc lấy.
Tin mừng ghi nhận tiếp rằng: sau khi thấy,
ôm và hôn người con thứ, thì người cha truyền lệnh thực hiện ba hành vi mang
tính biểu tượng: mặc áo, đeo nhẫn và xỏ dép, chứng tỏ ông phục hồi cho người
con hoang đàng quyền tự do và quyền làm con mà anh ta đã đánh mất.
1. Mặc áo.
Chiếc áo đẹp tượng trưng cho áo lễ rửa tội;
chiếc áo trắng này thể hiện sự thanh khiết của tâm hồn người được rửa tội. Hành
động ban áo tượng trưng cho hành động đầu tiên của Chúa đối với Adam khi ông phạm
tội. Chúa che đậy nỗi khổ của tội lỗi chúng ta bằng chiếc áo đẹp này; hơn thế nữa,
Ngài cũng rửa sạch lỗi lầm của chúng ta và phục hồi tâm hồn chúng ta về sự
thanh khiết ban đầu. Ngài không chỉ che đậy nỗi khổ; mà còn là sự phục hồi thực
sự về sự thanh khiết ban đầu.
Áo ảo.
Nhiều người tạo giá trị đời mình bằng cách sắm
sửa quần áo đắt tiền. Nhiều kẻ đánh giá sai một người cũng chỉ vì áo quần
người đó che thân.
Nhiều lần Chúa khó chịu vì các thầy tư tế
thích trang phục cho mình những áo tua rộng, ngồi chỗ nhất trong hội đường để
được chú ý.
Cả đời Ðức Kitô, có một lần Phúc Âm nhắc đến
áo, lại là lần mất áo. "Chúng đem áo Người ra bắt thăm mà chia nhau"
(Mt.27:35). Chúa không lấy tấm áo làm biểu hiệu chứng nhân. Biết đâu những tấm
áo tôi mặc hôm nay chẳng làm tôi thành nhân chứng mà chỉ là tấm áo ẩn náu, che
đi những yếu đuối vì tôi không có khả năng làm chứng nhân.
Áo thật.
Có tội, Ađam, Evà mới tìm áo che thân.
Như vậy, áo che thân cũng là áo che tội. Theo câu chuyện thiếu áo che thân của
nguyên tổ trong địa đàng, áo và tội liên quan với nhau. Biết đâu, hôm nay cũng
có những tấm áo chỉ để làm nổi bật sự quan trọng mà thực sự họ chẳng có.
Hoặc để che đi những gì họ có mà chẳng tốt lành.
Thế nên, nếu Evà vì tội phải cần tấm áo che
thân, thì mỗi manh áo tôi che trên mình đều có ý nghĩa. Manh áo ấy có nhắc
tôi về tội tôi đang giấu giếm? Những tương quan của manh áo này với manh
áo nọ trong cuộc đời chắc hẳn cũng có những ý nghĩa. Ðâu là ý nghĩa chiếc
áo của những người nghèo đang mặc? Nó liên hệ thế nào với chiếc áo của
tôi trong thân thể Chúa Kitô, nơi mọi người đều là anh em?
Khi người cha ra lệnh, chứ không phải người
con thứ đòi, đó là lời nhắc nhở không chỉ về ý định tốt lành của Chúa, mà còn
là xác tín rằng: chỉ có Chúa, Đấng ban và mặc cho ta những tấm áo đích thực mà
thôi.
Ta đang để Chúa mặc cho mình không?
Đồng thời, với Chúa, áo không chỉ là để che
đậy, mà qua tấm áo trắng của bí tích Rửa tội, Chúa muốn làm ta cho ta trở thành
thanh khiết, trong trắng. ta có muốn và chấp nhận không?
"Mau mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho
cậu..." (Lc. 15:20-22). Bỏ nhà, anh ta phải đem những áo tốt nhất đi theo.
Thế mà chiếc áo đẹp nhất lại quên! Anh vô tình hay cố tình? Áo đẹp nhất là áo nào?
Lúc ông bảo đầy tớ về lấy áo, người đầy tớ
không thắc mắc chiếc áo nào, áo của ai, không thắc mắc áo của người anh hay áo
của chính ông chủ, người đầy tớ hiểu đích xác chiếc áo nào. Qua cách truyền
lệnh ấy, dường như giữa người đầy tớ và ông cha già đã có những lần nói chuyện
về cái áo và mục đích của nó để làm gì. Bởi thế, khi nói lấy chiếc áo đẹp
nhất, người đầy tớ không cần hỏi han chi, họ biết ngay áo nào rồi.
Ta có thường xuyên nói chuyện và lắng nghe từ
Chúa về những chiếc áo đẹp nhất cho mình và cho người khác không?
Không phải đợi con về mới có chiếc áo mới.
Chiếc áo ấy đã may sẵn. Như thế, trong lúc tôi phạm tội, khi tôi trong bóng tối
sự chết, Chúa đã gieo mầm phục sinh cho tôi.
Lạy Chúa, nói chiếc "áo đẹp nhất",
con muốn hiểu không phải đẹp trong ý nghĩa tơ lụa, mà là ngày tháng nối những
ngày tháng, người cha cứ nghĩ đến đứa con. Ông nhớ nó trong những đường may nối
những đường may. Con muốn hiểu tình thương của Chúa trong chiều sâu đó.
2. Đeo nhẫn.
Biểu tượng thứ hai là chiếc
nhẫn mà người con trai nhận lại. Nó mang ý nghĩa kép. Thời cổ đại, chiếc nhẫn
dùng làm con dấu, xác định người gửi thông điệp. Đeo nhẫn gia truyền là đeo con
dấu của gia đình. Như vậy, người con trai một lần nữa trở thành người phát ngôn
cho gia đình và do đó là cho Cha, lời nói của anh ta mang thẩm quyền của lời
Cha.
Đồng thời, chiếc nhẫn cũng
tượng trưng cho giao ước, như trong bối cảnh hôn nhân. Nhận lại chiếc nhẫn có
nghĩa là trở thành một thành viên trọn vẹn của gia đình một lần nữa, trong mắt
cha và trước mặt mọi người.
Hành động này thường tượng
trưng cho việc trao gửi trách nhiệm, tình yêu thương, sự che chở, và hy vọng
con sẽ tiếp nối truyền thống gia đình, gặt hái thành công. Ngoài ra, nhẫn còn
là vật chứng minh tình cảm gia đình, tạo sự gắn kết bền vững.
Kinh Thánh nói về nhẫn cai
quản, như Pharaô nói với Giuse: “Này trẫm đặt khanh coi toàn cõi Aicập” và rút
nhẫn khỏi tay mình mà trao tay cho Giuse (St. 41,39-42). Quyền cai quản tượng
trưng trên chiếc nhẫn cũng là dấu chỉ giao ước một đời phục vụ. Trong sách
Sáng thế, chiếc nhẫn được đề cập đến như là dấu hiệu của lòng
trung thành (St 24, 22.30.53). Nơi sách Étte và Tin Mừng Luca, chiếc
nhẫn được xem như là một dấu chỉ cho một sự chấp thuận nào đó (Et
8, 2.8; Lc 15, 22).
Nhẫn không những là đồ
trang sức nhưng còn mang ý nghĩa duy nhất là gắn kết hai tâm hồn đang yêu lại với
nhau. Chiếc nhẫn không đơn thuần chỉ là một quà tặng mà còn là biểu hiện của
tình yêu, sự ràng buộc, lòng chung thủy, sự trung thực, tin tưởng lẫn nhau và
quyết tâm gắn bó của hai người đến trọn đời.
Khi bước vào đời tu, được sống
trong khung trời tình yêu của Chúa, và nhất là từ khi trên ngón tay áp út là một
vòng nhẫn, thì người tu sĩ đã thực sự được thuộc trọn về Giêsu, cả thần trí,
tâm hồn và thân xác. Giao ước giữa Giêsu và người tu sĩ đã được ký kết với một
tình yêu viên mãn mà Giêsu dành cho; ngược lại, người tu sĩ sẽ hiến dâng cho
Ngài trót cả cuộc đời.
Vì thế, khi được mang nhẫn,
giống người con thứ:
- Ta không xứng đáng, nhưng
bởi tình yêu và ý định tốt lành của Chúa.
- Ta được mời gọi sống ơn gọi
và sứ vụ là người của và thuộc về Chúa.
- Ta được mời gọi sống xứng
đáng với chiếc nhẫn mà ta đang mang.
Tuy nhiên, giống nnhư người
con thứ, đã từng được mang nhẫn và cũng đã từng tháo nhẫn, thì hôm nay, một lần
nữa được trao nhẫn, nên phải ý thức: nhẫn cai quản mà thiếu phục vụ thì nhẫn
thành độc tài. Nhẫn hôn nhân mà thiếu yêu thương thì nhẫn thành giả dối. Nhẫn
giàu sang có thể thành kiêu ngạo, khoe khoang. Nhẫn thường làm biểu tượng cho một
ý nghĩa sâu xa ở phía sau.
Và rồi theo dòng thời
gian chiếc nhẫn vật chất sẽ bị hao mòn đi, chiếc nhẫn va chạm với
thế giới xung quanh và bạc màu theo năm tháng. Chiếc nhẫn tình yêu
người tu sĩ cũng bị những va chạm trong đời sống thường ngày, những
thử thách, những hiểu lầm, cũng có lúc cảm thấy cô đơn trong căn
phòng riêng của mình, và cũng nhiều lúc ý tưởng, động lực “thuở
ban đầu” bị phai nhạt đi.
Thế nên, chiếc nhẫn
tình yêu của người tu sĩ với Chúa Giêsu luôn luôn cần phải được
tôi luyện cho đến giây phút cuối cùng để luôn tỏa sáng vẻ đẹp
rạng ngời mà bình dị. Vâng phục trong tình yêu, vâng phục trong ý
kiến riêng có lẽ là cách thế tốt để giữ mãi chiếc nhẫn luôn trong
trẻo.
3. Mang dép.
Yếu tố cuối
cùng là đôi dép. Việc người cha sai đầy tớ mang dép vào chân cho người con thứ
khi trở về mang ý nghĩa sâu sắc về sự phục hồi địa vị, tình yêu thương và
sự tôn trọng.
Trong thời cổ đại,
dép mang ý nghĩa biểu tượng mạnh mẽ. Nô lệ đi chân trần, và chỉ những người tự
do mới mang dép. Người con thứ đã yêu cầu cha mình đối xử với mình như một người
hầu, nhưng điều này bị từ chối. Người con vẫn là một người tự do.
Sự tự do này,
mà chúng ta sở hữu, thường bị lạm dụng. Chúa sẽ không bao giờ lấy đi sự tự do
đó khỏi chúng ta, và việc sử dụng nó một cách khôn ngoan là tùy thuộc vào chúng
ta.
Tuy nhiên, khi không
có giày, chúng ta bất lực. Chúng ta khúm núm. Cảm thấy mình yếu đuối và tầm thường.
Chúng ta không thể đi tiếp. Khi người con thứ chưa mang dép, anh đặt tất cả cuộc
đời mình vào tay cha, ý thức sự phụ thuộc vào cha.
Vì vậy, khi phải
cởi dép ra, phải đi chân trần, hãy xem đó như là thời điểm mà ta dễ bị tổn
thương, yếu đuối, bất lực và hãy chuyển suy nghĩ sang việc phụ thuộc vào Chúa.
Ta có thể xem khoảnh khắc đó là một hành động đầu phục và phó thác hết mọi sự
cho Ngài, đặt mình vào sự thương xót của Ngài, và nhận biết sự hiện diện thánh
của Ngài với ta.
Được mang dép,
đó là một hạnh phúc. Nhưng
ta đang mang dép ai ban ?
Thánh Phaolô
trong thư gửi tín hữu Êphêsô 6, 14-15: Vậy hãy đứng vững: lưng thắt
đai là chân lý, mình mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày là
lòng hăng say loan báo tin mừng bình an.
Phaolô chọn
giày dép để thể hiện sự sẵn sàng với Tin mừng, không có giày dép thì không thể
làm được gì cả, nhưng nếu chúng ta mang giày rồi, thì chúng ta đã sẵn sàng để
hành động.
Dép ta đang
mang nhắc và mời gọi ta điều gì? Và ta đáp trả như thế nào?
Trong Công Vụ
Tông Đồ 12,7-8: Bỗng thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh ông, và ánh sáng
chói rực cả phòng giam. Thiên sứ đập vào cạnh sườn ông Phê-rô, đánh thức ông và
bảo: “Đứng dậy mau đi!” Xiềng xích liền tuột khỏi tay ông.8 Thiên
sứ nói tiếp: “Thắt lưng lại và xỏ dép vào!” Ông làm như vậy. Rồi thiên sứ lại bảo
ông: “Khoác áo choàng vào và đi theo tôi!”
Chúa làm phép lạ
khiến xích xiềng rớt ra, nhưng Phêrô vẫn phải tự đứng dậy và mang dép vào. Tất
nhiên là Chúa có thể khiến Phêrô sẵn sàng một cách siêu nhiên ngay cả khi ông
không cần phải tự mình làm gì cả, nhưng đó là một phần trong thỏa thuận, Phêrô
phải làm những gì ông có thể làm, còn việc gì bất khả thi thì để cho Chúa.
Phêrô phải có hành động gì đó để cho thấy mình sẵn sàng. Ông phải mang dép vào,
và đi theo thiên sứ để thoát được ra ngoài.
Được mang dép, là sự sẵn
sàng của ta với sứ vụ, với công việc và với nơi được sai đi như thế nào?
Đôi dép trao cho người con
thứ tượng trưng cho việc anh có quyền tự do lựa chọn con đường của riêng mình.
Anh có thể chọn đi cùng cha mình, nhưng anh ta cũng có thể quyết định bất cứ
lúc nào quay trở lại con đường sa ngã. Anh được tự do.
Hãy nghĩ đến Phêrô, sững sờ
và bối rối, nhưng vẫn sẵn sàng bước những bước tiếp theo vào sự tự do và những
cuộc phiêu lưu mà Chúa dành sẵn cho ông. Hãy nghĩ về sự khích lệ của Phaolô để
mang vừa chân bạn với sự sẵn sàng của tin mừng
bình an. Trang bị cho mình về mặt tinh thần và xin ân sủng Chúa cho những
ngày sắp tới và sẵn sàng để làm những việc mà Chúa dành cho ta, bất kể đó là
gì.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét